A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tăng lương, tăng thêm động lực bám trường, bám bản của giáo viên vùng khó

Mỗi điều chỉnh về tiền lương, chế độ đãi ngộ nếu được thực thi đầy đủ, kịp thời sẽ trở thành điểm tựa để giáo viên tiếp tục “giữ lửa” cho nghề, giữ con chữ ở những nơi khó khăn nhất.

Từ ngày 1/1/2026, Luật Nhà giáo chính thức xác lập một bước ngoặt quan trọng: lương của nhà giáo được xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính – sự nghiệp.

Lần đầu tiên, vị thế tiền lương của đội ngũ giáo viên được luật hóa rõ ràng, thay vì chỉ dừng ở chủ trương hay định hướng, tạo cơ sở pháp lý để Chính phủ ban hành bảng lương, hệ số và các chế độ đãi ngộ tương xứng cho nhà giáo trong các nghị định hướng dẫn.

Nhân dịp đầu xuân Bính Ngọ 2026, trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, cô Chu Thị Thái Hà, Hiệu trưởng Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học Cơ sở Kim Hỷ (xã Văn Lang, tỉnh Thái Nguyên) bày tỏ niềm phấn khởi khi đón nhận thông tin nâng lương chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đây là nguồn động viên lớn đối với bản thân và nhiều đồng nghiệp đang ngày ngày bám trường, bám lớp ở vùng khó khăn.

“Đối với giáo viên vùng khó, tăng lương là nguồn động viên rất lớn để yên tâm gắn bó lâu dài với nghề”, cô Hà nói.

z7384188136239_ef467642e5f31f53bf09ce352c60c970.jpg

Không chỉ dạy chữ, giáo viên vùng cao còn phải làm công tác vận động học sinh đến lớp, duy trì sĩ số, hướng dẫn nề nếp sinh hoạt, thậm chí thay phụ huynh chăm lo cho các em. Ảnh: NTCC

Xã Văn Lang là địa bàn vùng sâu, vùng xa, trước đây thuộc tỉnh Bắc Kạn cũ, hiện được sáp nhập từ 3 xã đặc biệt khó khăn. Điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều hạn chế, đời sống người dân chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp, thu nhập bấp bênh. Phần lớn học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo, việc học tập của các em phụ thuộc rất nhiều vào sự tận tâm của thầy cô giáo.

“Ở đây, giáo dục không chỉ là dạy kiến thức. Giáo viên còn phải vận động học sinh đến lớp, duy trì sĩ số, uốn nắn từng thói quen học tập ban đầu”, cô Hà chia sẻ.

Đặc biệt, với học sinh lớp 1, thách thức càng lớn khi còn có học sinh chưa thông thạo tiếng Kinh. Nhà trường phải bố trí giáo viên biết tiếng dân tộc trực tiếp giảng dạy, hỗ trợ chuyển ngữ để các em theo kịp chương trình. Với nhiều phụ huynh, do bận rộn mưu sinh, việc dạy dỗ con em gần như được gửi gắm hoàn toàn cho thầy cô. Những điểm trường lẻ giữa núi rừng.

Hiện nay, Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học Cơ sở Kim Hỷ có 218 học sinh, trong đó chỉ có 1 học sinh dân tộc Kinh, còn lại chủ yếu là học sinh dân tộc Dao (trên 50%), Tày và Nùng. Trường có 1 điểm trường chính và 3 điểm trường lẻ, nằm rải rác trên địa bàn rộng, địa hình hiểm trở.

z7384188114728_15a040cbc5be1064b30336cb8ec713ca.jpg

Nhiều học sinh lớp 1 chưa thạo tiếng Việt, buộc nhà trường phải bố trí giáo viên biết tiếng dân tộc để hỗ trợ giảng dạy. Ảnh: NTCC

Điểm trường Kim Vân, nơi thường xuyên bị ngập lụt vào mùa mưa, cách trường chính khoảng 8km. Điểm trường Khuổi Hát cũng cách khoảng 8km.

Riêng điểm trường Khuổi Phầy nằm sâu trong vùng đồi núi, đường đi vô cùng khó khăn, nhiều đoạn chỉ là đất đỏ, bùn lầy trơn trượt khi mưa xuống. Nếu đi đường tắt, quãng đường đến Khuổi Phầy khoảng 13km; còn nếu chọn tuyến an toàn hơn, quãng đường có thể lên tới hơn 40km. Tuy nhiên, để kịp thời gian giảng dạy, giáo viên thường phải đi đường tắt, chấp nhận vất vả, rủi ro, nhất là vào mùa mưa.

Hiện điểm trường Khuổi Phầy chỉ có 6 học sinh, gồm 1 em lớp 1 và 5 em lớp 2, được tổ chức dạy theo mô hình lớp ghép. Các điểm trường lẻ đều dạy học sinh lớp 1 và lớp 2, còn từ lớp 3 trở lên, học sinh được tập trung về học tại trường chính.

Tại điểm trường Khuổi Phầy, một giáo viên chính đảm nhiệm dạy tất cả các môn học. Ngoài ra, mỗi tuần có thêm một thầy giáo dạy Âm nhạc và một thầy giáo dạy Thể dục từ trường chính vào hỗ trợ. Như vậy, trung bình có 3 thầy cô giáo cùng tham gia giảng dạy tại điểm trường này - con số cho thấy rõ sự vất vả và nỗ lực lớn của đội ngũ giáo viên nơi vùng cao.

Theo cô Hà, đặc thù các xã vùng sâu, vùng xa như Văn Lang là các trường đều có nhiều điểm trường, chủ yếu là bậc Tiểu học; học sinh cấp Trung học cơ sở đã được tập trung về trường chính để bảo đảm điều kiện dạy và học tốt hơn.

z7384187500481_ceed60681e39412eb2aa4b9871c5f626.jpg

Trường Phổ thông Dân tộc Bán trú Tiểu học và Trung học Cơ sở Kim Hỷ. Ảnh: NTCC

Trong bối cảnh điều kiện giảng dạy, sinh hoạt còn nhiều thiếu thốn, việc điều chỉnh chính sách tiền lương đối với giáo viên được xem là “liều thuốc tinh thần” quan trọng, giúp thầy cô thêm yên tâm công tác, gắn bó với nghề.

“Chúng tôi không mong gì hơn ngoài việc được tiếp thêm động lực để tiếp tục bám trường, bám bản, đồng hành cùng học sinh vùng cao. Khi đời sống giáo viên được quan tâm, chất lượng giáo dục chắc chắn sẽ được nâng lên”, cô Hà nhấn mạnh.

Ở xã Sà Phìn, tỉnh Tuyên Quang nơi mây phủ trắng đèo mỗi sáng cô Chu Thị Lý, giáo viên Trường PTDTBT Tiểu học Sủng Là, vẫn cần mẫn đến lớp. Năm nay cô 57 tuổi, tóc đã lấm sương, nhưng ánh mắt vẫn sáng lên khi nhắc đến học trò.

“Tôi bắt đầu dạy từ năm 1990, khi lương khởi điểm chỉ khoảng 24.000 đồng. Cả tháng tiền lương chưa mua nổi đôi dép tốt”, cô cười, nụ cười pha giữa tự hào và xót xa.

Giờ đây, sau 35 năm công tác, mức thu nhập của cô đạt khoảng 25–26 triệu đồng, nhờ cộng gộp các khoản phụ cấp vùng cao, biên giới và thâm niên. Nhưng đó là thành quả của một hành trình dài đằng đẵng, của những năm tháng dạy học trong giá rét, của những con đường đất đỏ quanh co dẫn đến điểm trường Lao Xa, nơi học sinh đi bộ hàng giờ chỉ để được đến lớp.

“Tôi nhớ có lần mùa đông sương xuống dày đặc, cả lớp co ro trong chiếc nhà gỗ. Tôi và trò nhóm bếp củi giữa lớp, vừa dạy vừa hong khô những trang vở ướt. Có lẽ, tình yêu nghề cũng được nhen lên từ ngọn lửa ấy”, cô kể.

Cô Chu Thị Lý trong giờ dạy. Ảnh: Văn Hiền

Cô Chu Thị Lý trong giờ dạy.

Khi được hỏi về chính sách tăng lương sắp tới, cô Lý ánh lên niềm hy vọng. Nếu phụ cấp nghề tăng lên 70%, tổng thu nhập của cô có thể vượt 30 triệu đồng/tháng.

“Không chỉ là tiền, mà là sự công nhận. Chúng tôi thấy nghề của mình được trân trọng hơn”, cô Lý nói.

Khẳng định cần có chính sách đặc thù về lương cho nhà giáo, bà Nguyễn Thị Việt Nga, Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội - cho rằng, đội ngũ giáo viên, đặc biệt là giáo viên mầm non, vùng khó khăn… đang rơi vào tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng. Mức thu nhập hiện hành không còn đáp ứng được mức sống tối thiểu.

Bên cạnh đó, không thể kỳ vọng “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục” nếu chúng ta không bắt đầu từ đầu tư đúng mức cho đội ngũ nhà giáo.

“Luật Nhà giáo đã xác lập vị trí đặc thù của nhà giáo, giao Chính phủ quy định xếp lương nhà giáo ở mức cao nhất. Đây là một chính sách đã được Quốc hội quyết định và các cơ quan Chính phủ phải triển khai”, bà Nga nhấn mạnh.

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cả nước có hơn 1,26 triệu giáo viên từ mầm non đến hết lớp 12. Theo định mức, số giáo viên còn thiếu khoảng 120.000 người.

Giai đoạn 2022-2026, ngành giáo dục được giao tuyển bổ sung gần 66.000 biên chế. Cộng với khoảng 43.000 biên chế chưa sử dụng trước đó, tổng là gần 109.000.

Tuy nhiên đến cuối năm ngoái, các địa phương mới tuyển được khoảng 50.000 người. Như vậy, còn khoảng 60.000 biên chế chưa được tuyển dụng.

Đề xuất mới của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thi tuyển giáo viên, xác định người trúng tuyển.

Nhà giáo còn được hưởng thêm các khoản phụ cấp đặc thù, trách nhiệm, ưu đãi, trợ cấp vùng khó khăn, trợ cấp giáo dục hòa nhập, thâm niên, lưu động…, góp phần nâng cao thu nhập toàn diện.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim Sơn cũng cho biết, Bộ cũng đang hoàn thiện dự thảo quy định chi tiết về tiền lương, phụ cấp và các chính sách thu hút, hỗ trợ nhà giáo.

Theo đó, dự kiến tiền lương cơ bản của tất cả nhà giáo đều tăng, tăng thêm ít nhất khoảng 2 triệu đồng, nhiều nhất có thể lên tới 5-7 triệu đồng/người/tháng. Tiền tăng thêm này chỉ tính với lương cơ bản, chưa tính với các loại phụ cấp khác.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết