Gỡ điểm nghẽn dự án, khơi thông nguồn lực cho đô thị phát triển
Qua trao đổi với phóng viên Báo Nhà báo và Công luận, góp ý vào dự án Luật Phát triển đô thị đang được Quốc hội xem xét, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Hải Phòng) cho rằng cần có cơ chế đủ mạnh để xử lý các dự án tồn đọng, nhưng đi cùng với đó phải là những giải pháp kiểm soát chặt chẽ nhằm bảo đảm không thất thoát nguồn lực công, không hợp thức hóa lợi ích phát sinh từ việc dự án kéo dài.
Không để đất đai, tài sản và nguồn lực tiếp tục bị “đóng băng”
+ Thưa Đại biểu, một trong những nội dung đáng chú ý của dự án Luật Phát triển đô thị là cơ chế tháo gỡ các dự án chậm triển khai. Từ thực tiễn, theo ông, đâu là vấn đề cần được đặt ra khi xử lý những dự án đang “đình trệ”?
- Đây là vấn đề rất thực tế và cần được nhìn nhận từ cả hai phía. Một mặt, chúng ta phải tìm cách tháo gỡ những dự án chậm triển khai để đưa đất đai, tài sản và các nguồn lực xã hội vào sử dụng hiệu quả. Nhưng mặt khác, tháo gỡ không có nghĩa là đơn giản hóa mọi thứ để dự án được tiếp tục bằng mọi giá.

PGS.TS - Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Sơn. Ảnh: Nguyễn Hường
Trước hết, cần phân loại rõ nguyên nhân dẫn đến đình trệ: Dự án vướng do pháp luật thay đổi, chồng chéo hoặc do thủ tục từ phía cơ quan nhà nước; dự án có vi phạm nhưng còn khả năng khắc phục; và dự án mà nhà đầu tư không còn đủ năng lực hoặc việc tiếp tục không còn phù hợp. Mỗi nhóm phải có cách xử lý khác nhau, không nên áp dụng một cơ chế chung cho tất cả.
Tôi đánh giá cao việc dự thảo đã thiết kế các nguyên tắc xử lý khá chặt chẽ, trong đó có yêu cầu phải có kết luận thanh tra hoặc bản án và không hợp thức hóa sai phạm. Đây là hướng tiếp cận cần thiết.
Tuy nhiên, một dự án kéo dài nhiều năm sẽ phát sinh rất nhiều vấn đề. Giá trị đất đai thay đổi, nghĩa vụ tài chính có thể thay đổi, phương án đầu tư cũng có thể không còn phù hợp với điều kiện hiện tại. Vì vậy, khi cho phép tiếp tục một dự án, trước hết phải rà soát, xác định đầy đủ nghĩa vụ tài chính về đất đai và những nghĩa vụ phát sinh do việc điều chỉnh, tiếp tục dự án.
Theo tôi, phải bảo đảm hai yêu cầu: Nhà nước không bị thất thu, nhưng cũng không xác lập lại những nghĩa vụ mà nhà đầu tư đã thực hiện hợp pháp trước đó. Đây là ranh giới rất quan trọng. Chúng ta cần giải phóng nguồn lực đang bị đóng băng, nhưng không thể để cơ chế xử lý tồn đọng trở thành cơ chế hợp thức hóa những lợi ích phát sinh chỉ vì một dự án đã kéo dài quá lâu.
Mục tiêu của cơ chế này không phải là “cứu” mọi dự án tồn đọng, mà là khơi thông những nguồn lực đang bị mắc kẹt trong các dự án còn khả năng phục hồi và tạo ra giá trị cho xã hội. Sai phạm nếu có vẫn phải được xử lý, nghĩa vụ tài chính vẫn phải được xác định đầy đủ.
Đối với những dự án có giá trị đất đai, tài sản công hoặc nghĩa vụ tài chính lớn, phức tạp, tôi cho rằng cần có sự thẩm định liên ngành trước khi quyết định. Khi nhiều cơ quan cùng tham gia rà soát, đánh giá thì quyết định sẽ có cơ sở đầy đủ hơn, đồng thời cũng là cách bảo vệ chính người đặt bút ký quyết định.
Trao quyền phải đi cùng kiểm soát quyền lực
+ Một nội dung khác được quan tâm là việc tăng quyền chủ động cho các đô thị lớn trong quy hoạch. Vậy làm thế nào để phân quyền mạnh nhưng vẫn bảo đảm lợi ích chung, thưa ông?
- Tôi đồng tình với tinh thần tăng quyền chủ động cho các đô thị, nhất là những đô thị có quy mô lớn, có khả năng tạo động lực phát triển cho cả vùng. Đô thị muốn phát triển nhanh thì không thể mọi vấn đề đều phải chờ đợi, xin ý kiến ở nhiều cấp. Nhưng càng trao quyền mạnh thì yêu cầu kiểm soát quyền lực càng phải rõ, và quyền được trao càng lớn thì trách nhiệm giải trình của người quyết định càng phải tương xứng.
Chẳng hạn, dự thảo cho phép lập một quy hoạch tổng thể của thành phố thay thế cả quy hoạch tỉnh và quy hoạch chung đô thị đặc biệt. Đây là bước phân quyền rất mạnh. Nhưng quy hoạch của một đô thị lớn không chỉ tác động trong phạm vi địa giới hành chính của đô thị đó. Nó liên quan đến giao thông vùng, cảng biển, sân bay, nguồn nước, lưu vực sông và nhiều công trình hạ tầng quốc gia.
Do đó, tôi cho rằng Luật cần quy định rõ cơ chế phối hợp, lấy ý kiến và xử lý ý kiến đối với những nội dung tác động đến quy hoạch cấp quốc gia, kết cấu hạ tầng quốc gia hoặc có tính chất liên vùng; trường hợp vượt khả năng phối hợp của các địa phương hoặc còn ý kiến khác nhau thì phải xác định rõ cấp có thẩm quyền ở Trung ương xem xét, quyết định.
Ở đây cần phân biệt: không đồng nghĩa với “xin ý kiến” hay “thỏa thuận”. Nếu chỉ quy định nghĩa vụ báo cáo mà không nói rõ xử lý thế nào khi còn ý kiến khác nhau thì trên thực tế sẽ rất khó áp dụng.

Ảnh: Trung Hiền
Nói một cách dễ hiểu, địa phương cần được trao quyền để chủ động phát triển, nhưng những vấn đề vượt khỏi ranh giới của một địa phương thì phải có cơ chế điều phối tương xứng. Thực tiễn nhiều năm qua cho thấy các cơ chế liên kết vùng thường xây dựng trên nguyên tắc đồng thuận, nhưng lại chưa trả lời được câu hỏi: Nếu các địa phương không đạt được đồng thuận thì ai quyết định? Đó thường là những vấn đề khó nhất: chọn vị trí khu xử lý chất thải, phân bổ nguồn nước, xử lý ô nhiễm lưu vực sông. Không có cơ chế xử lý bất đồng thì liên kết vùng khó đi vào thực chất.
Nói cách khác, phân quyền không đồng nghĩa với phân mảnh phát triển; nhưng điều phối cũng không được biến trở lại thành cơ chế xin - cho đối với những việc Luật đã giao địa phương tự quyết và tự chịu trách nhiệm.
Minh bạch để cạnh tranh thực chất, người dân được hưởng lợi từ đầu tư
+ Dự thảo cũng đặt ra cơ chế lựa chọn nhà đầu tư chiến lược. Theo ông, cần làm gì để việc lựa chọn thực sự công khai, cạnh tranh, tránh hình thức?
- Đây là một khâu rất quan trọng, bởi nhà đầu tư được lựa chọn sẽ gắn với những dự án có quy mô rất lớn. Theo dự thảo, các nhóm dự án thuộc danh mục áp dụng cơ chế nhà đầu tư chiến lược có ngưỡng quy mô vốn trải từ 800 tỷ đồng đến 75.000 tỷ đồng tùy lĩnh vực. Nếu cơ chế lựa chọn chưa đủ cạnh tranh thì khó bảo đảm hiệu quả của dự án về lâu dài.
Tôi cho rằng danh mục dự án, tiêu chí lựa chọn và tiêu chí chấm điểm phải được công khai ngay từ đầu, trước khi tiếp nhận hồ sơ, và nên công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia để mọi nhà đầu tư tiếp cận thông tin như nhau. Nhà đầu tư phải biết rõ mình được đánh giá dựa trên những tiêu chí nào để chuẩn bị hồ sơ một cách nghiêm túc. Nếu tiêu chí chấm điểm lại được ban hành sau khi đã nhận hồ sơ thì tính khách quan sẽ bị đặt dấu hỏi.
Vấn đề thứ hai là thời gian. Một dự án lớn cần nhiều tháng để nghiên cứu khả thi, thu xếp vốn, rà soát pháp lý và chuẩn bị hồ sơ. Trong khi đó, dự thảo quy định thời hạn để nhà đầu tư thứ hai nộp hồ sơ chỉ là 7 ngày. Với một dự án hàng nghìn tỷ đồng, khoảng thời gian đó trên danh nghĩa vẫn là cạnh tranh, nhưng trên thực tế rất khó có nhiều nhà đầu tư đủ điều kiện tham gia. Tôi đề nghị nghiên cứu kéo dài đáng kể thời hạn tiếp nhận hồ sơ, có thể cân nhắc mức tối thiểu khoảng 45 ngày hoặc một thời hạn tương xứng với quy mô và tính chất phức tạp của dự án.
Điều cần kiểm soát ở đây không phải chỉ là một doanh nghiệp có được gọi là “nhà đầu tư chiến lược” hay không, mà quan trọng hơn là quá trình lựa chọn có thực sự cạnh tranh, minh bạch hay không. Càng trao cơ chế đặc biệt hoặc ưu đãi lớn thì yêu cầu về công khai, cạnh tranh và trách nhiệm giải trình càng phải cao hơn, chứ không thể thấp hơn.
Cùng với tiêu chí lựa chọn, Luật cũng cần quy định rõ cơ chế giám sát việc thực hiện cam kết của nhà đầu tư sau khi được lựa chọn và hậu quả nếu không thực hiện đúng tiến độ, năng lực hoặc nghĩa vụ đã cam kết.
+ Xin trân trọng cảm ơn đại biểu!





