• :
  • :
Trang thông tin điện tử tổng hợp
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Chính sách mới: Cấp mã số vùng trồng trong 3 ngày làm việc

Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP của Chính phủ chính thức có hiệu lực từ ngày 31-7-2026, đánh dấu bước chuyển mạnh trong cải cách thủ tục cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Điểm nổi bật của nghị quyết là chuyển từ cơ chế tiền kiểm sang tự khai, hậu kiểm, đồng thời phân cấp mạnh cho chính quyền cấp xã, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục, tạo thuận lợi cho người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu quản lý nhà nước.

Theo quy định mới, đối với tổ chức, cá nhân không đăng ký xuất khẩu sang các thị trường yêu cầu mã số vùng trồng hoặc mã số cơ sở đóng gói, chủ tịch UBND cấp xã phải thông báo cấp mã số trong thời hạn không quá 3 ngày làm việc kể từ khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Nếu không đủ điều kiện cấp, cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Trường hợp đăng ký xuất khẩu sang các thị trường có yêu cầu về mã số, thời gian giải quyết không quá 10 ngày làm việc. Trong khoảng thời gian này, UBND cấp xã tổ chức kiểm tra việc đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của nước nhập khẩu trước khi cấp mã số hoặc thực hiện các bước tiếp theo nếu phía nhập khẩu yêu cầu phê duyệt.

Ảnh minh họa: baochinhphu.vn

So với trước đây, thủ tục được đơn giản hóa đáng kể. Thay vì phải qua nhiều đầu mối, người dân và doanh nghiệp chỉ cần nộp hồ sơ trực tiếp đến UBND cấp xã nơi có vùng trồng hoặc cơ sở đóng gói thông qua Cổng dịch vụ công quốc gia. Trường hợp hệ thống điện tử gặp sự cố, hồ sơ giấy vẫn được tiếp nhận và cập nhật lên hệ thống sau khi cổng dịch vụ công hoạt động trở lại.

Một điểm mới khác là việc xác định vùng trồng linh hoạt hơn. Nếu trước đây việc xác định thông tin còn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ quản lý thì nay vị trí thửa đất được xác định theo mã định danh trong cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai. Trường hợp chưa có hoặc chưa khai thác được mã định danh, người đăng ký được tự kê khai diện tích, vị trí và UBND cấp xã sẽ xác nhận trong quá trình kiểm tra thực tế hoặc hậu kiểm.

Nghị quyết cũng quy định rõ mã số vùng trồng chỉ được cấp cho một loại cây trồng xác định theo vị trí của một hoặc nhiều thửa đất và không thay thế quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân. Đồng thời, khuyến khích liên kết sản xuất giữa các tổ chức, cá nhân, hợp tác xã nhằm hình thành vùng nguyên liệu tập trung, quy mô lớn để đủ điều kiện cấp mã số.

Đối với các vùng trồng, cơ sở đóng gói đã được cấp mã số, tổ chức, cá nhân được đăng ký thêm thị trường xuất khẩu mà vẫn giữ nguyên mã số đã cấp. Trường hợp thay đổi tên người đại diện hoặc thay đổi địa giới hành chính, thời gian cấp lại chỉ còn hai ngày làm việc.

Dữ liệu về mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói sẽ được quản lý tập trung trên hệ thống cơ sở dữ liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản và các cơ sở dữ liệu liên quan. Các địa phương có trách nhiệm công khai tình trạng hoạt động của từng mã số để người dân, doanh nghiệp thuận tiện tra cứu.

Việc đơn giản hóa thủ tục không đồng nghĩa với nới lỏng quản lý. Theo nghị quyết, tổ chức, cá nhân phải tự khai và tự chịu trách nhiệm về tính chính xác của hồ sơ; cơ quan quản lý nhà nước chuyển trọng tâm sang hậu kiểm, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm và truy xuất nguồn gốc. Đối với các trường hợp được cấp mã số theo quy trình rút gọn, UBND cấp xã phải hoàn thành hậu kiểm trong thời hạn tối đa 3 tháng kể từ ngày cấp mã số.

Chính sách được kỳ vọng sẽ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, giảm thời gian, chi phí tuân thủ, đồng thời đáp ứng yêu cầu quản lý hiện đại, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên thị trường quốc tế.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết