• :
  • :
Trang thông tin điện tử tổng hợp
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khơi nguồn tri thức, nâng tầm sinh kế vùng cao

Ứng dụng khoa học và công nghệ không chỉ giúp đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi cách làm ăn, mà còn mở ra hướng khai thác hiệu quả tiềm năng bản địa, nâng cao giá trị nông sản và từng bước tạo dựng sinh kế bền vững ngay trên quê hương mình.

Ở nhiều bản làng vùng cao, đất đai, khí hậu và những sản vật đặc trưng vốn là nguồn lực quý giá. Nhưng có tài nguyên chưa đồng nghĩa với có sinh kế ổn định. Nông sản có thể được mùa nhưng khó tiêu thụ; sản phẩm mang hương vị riêng của núi rừng vẫn bán với giá thấp khi chưa có thương hiệu; người dân cần cù, giàu kinh nghiệm sản xuất nhưng đôi khi còn thiếu thông tin về kỹ thuật, thị trường và phương thức tổ chức kinh doanh.

3.jpg

Việc đưa khoa học và công nghệ đến gần hơn với người dân giúp các sản phẩm của địa phương được quảng bá và tiêu thụ tốt và hiệu quả hơn. Ảnh: Đỗ Hùng

Khoảng cách giữa tiềm năng và giá trị thực tế ấy đặt ra yêu cầu phải khơi thông một nguồn lực quan trọng: tri thức. Khi khoa học và công nghệ được đưa đến gần hơn với người dân, những kinh nghiệm sản xuất truyền thống có thể được bổ sung bằng kỹ thuật mới; sản phẩm địa phương có thêm cơ hội bước ra thị trường rộng lớn; còn người lao động có điều kiện chuyển từ sản xuất theo thói quen sang làm kinh tế dựa trên kiến thức, chất lượng và nhu cầu của khách hàng.

Đó cũng là một hướng đi thiết thực để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: không chỉ hỗ trợ người dân vượt qua khó khăn trước mắt, mà còn nâng cao năng lực tự phát triển, tạo sinh kế có khả năng duy trì lâu dài.

Từ kinh nghiệm bản địa đến giá trị gia tăng

Khoa học và công nghệ đôi khi được hình dung như những thành tựu xa xôi, gắn với phòng thí nghiệm, máy móc hiện đại hay các dây chuyền sản xuất quy mô lớn. Nhưng tại vùng cao, giá trị của khoa học có thể bắt đầu từ những thay đổi rất gần gũi: lựa chọn giống phù hợp, điều chỉnh quy trình chăm sóc, kiểm soát chất lượng nông sản, giảm tổn thất sau thu hoạch hoặc tìm được đầu ra ổn định hơn cho sản phẩm.

Điều quan trọng không phải đưa công nghệ bằng mọi giá, mà là tìm được giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, tập quán sản xuất, trình độ tiếp cận và khả năng đầu tư của từng cộng đồng. Một kỹ thuật dễ áp dụng, giúp giảm chi phí và nâng cao chất lượng sản phẩm, có khi mang lại tác động thiết thực hơn một mô hình hiện đại nhưng khó vận hành, thiếu người hướng dẫn hoặc không có thị trường tiêu thụ.

Thực tiễn triển khai các chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học và công nghệ tại khu vực nông thôn, miền núi cho thấy việc gắn công nghệ với nhu cầu sản xuất và điều kiện địa phương là hướng tiếp cận quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nông sản. Bộ Khoa học và Công nghệ cũng từng nhấn mạnh vai trò của các chương trình này trong thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Tuy nhiên, công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trong một chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Sản xuất tốt hơn là điều kiện cần, nhưng chưa đủ. Người dân còn cần biết bảo quản, sơ chế, đóng gói, xây dựng thương hiệu và tiếp cận thị trường. Nếu chỉ nâng năng suất mà không cải thiện khâu tiêu thụ, thành quả của đổi mới kỹ thuật vẫn có thể bị hạn chế bởi tình trạng được mùa mất giá hoặc phụ thuộc vào thương lái.

Bởi vậy, khơi nguồn tri thức cho vùng cao không nên dừng ở việc chuyển giao một quy trình kỹ thuật. Đó phải là quá trình giúp người dân hiểu vì sao cần thay đổi, biết cách áp dụng, có khả năng duy trì và từng bước làm chủ phương thức sản xuất mới. Khi kiến thức đi cùng tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ và năng lực quản trị, nó mới có thể chuyển hóa thành thu nhập ổn định.

Khi nông sản địa phương được nâng tầm bằng khoa học

Một minh chứng cho cách tiếp cận ấy là việc xây dựng và bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho quả na Lạng Sơn. Ngày 28/6/2024, chỉ dẫn địa lý “Na Lạng Sơn” được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận. Theo Sở Khoa học và Công nghệ Lạng Sơn, nhiệm vụ xây dựng chỉ dẫn địa lý không chỉ hướng đến xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sản phẩm, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng, duy trì danh tiếng sản phẩm, tạo cơ sở nâng cao giá trị nông sản.

na-dai.jpg

Ngày 28/6/2024, chỉ dẫn địa lý “Na Lạng Sơn” được Cục Sở hữu trí tuệ cấp giấy chứng nhận. Ảnh: KHB

Đằng sau một dấu hiệu nhận diện trên bao bì là cả quá trình xác định đặc trưng sản phẩm, xây dựng quy chế quản lý và sử dụng, kiểm soát chất lượng, phát triển hệ thống nhận diện và quảng bá. Đây là cách đưa tri thức khoa học, pháp lý và quản trị vào một sản phẩm gắn với điều kiện tự nhiên, kinh nghiệm canh tác và danh tiếng của địa phương.

Chỉ dẫn địa lý không tự động khiến giá bán tăng lên hay bảo đảm đầu ra cho người trồng na. Giá trị của công cụ này phụ thuộc vào việc duy trì chất lượng, tuân thủ quy trình, quản lý sử dụng đúng quy định và xây dựng được niềm tin của người tiêu dùng. Dẫu vậy, khi được tổ chức thực hiện bài bản, thương hiệu địa phương có thể trở thành nền tảng để nông sản cạnh tranh bằng chất lượng và nguồn gốc, thay vì chỉ dựa vào sản lượng hoặc giá bán.

Câu chuyện từ Lạng Sơn gợi mở một hướng đi rộng hơn cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Mỗi địa phương đều có những sản phẩm gắn với điều kiện sinh thái, văn hóa và tri thức cộng đồng. Vấn đề là nhận diện đúng lợi thế, lựa chọn hướng phát triển phù hợp và kết hợp kinh nghiệm bản địa với tiến bộ khoa học, công nghệ để tạo ra sản phẩm có chất lượng ổn định, có câu chuyện riêng và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Tri thức truyền thống vì thế không bị thay thế, mà có cơ hội được bổ sung, hoàn thiện và phát huy giá trị trong điều kiện mới. Người dân vẫn giữ vai trò trung tâm của quá trình sản xuất; khoa học và công nghệ giúp họ có thêm công cụ để làm ra sản phẩm tốt hơn, giảm rủi ro và nâng cao hiệu quả lao động.

Đưa tri thức vào hợp tác, đưa sản phẩm đến thị trường

Nếu kỹ thuật sản xuất giúp nâng chất lượng sản phẩm, thì tổ chức sản xuất và năng lực tiếp cận thị trường quyết định phần đáng kể giá trị mà người dân có thể giữ lại. Đây là lý do hợp tác xã ngày càng có vai trò quan trọng trong việc đưa khoa học, công nghệ và phương thức kinh doanh mới đến với đồng bào dân tộc thiểu số.

Tại Sơn La, mô hình Hợp tác xã Vân Hồ Retreat là một ví dụ về việc kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch trải nghiệm và tiêu thụ trực tuyến. Theo thông tin đăng trên Cổng thông tin Bình dân học vụ số tỉnh Sơn La ngày 5/10/2025, hợp tác xã có 8 thành viên là các hộ dân tộc Mông, tổ chức trồng rau màu gắn với hoạt động du lịch và bán hàng qua mạng. Thay vì sản xuất hoàn toàn dựa trên phán đoán về sức mua, hợp tác xã đăng sản phẩm trực tuyến, căn cứ lượng khách đặt hàng để phân bổ sản lượng cho các hộ thành viên.

Cách làm này cho thấy chuyển đổi phương thức kinh doanh không nhất thiết bắt đầu bằng những khoản đầu tư lớn. Việc biết giới thiệu sản phẩm trên nền tảng số, tiếp nhận đơn hàng, phối hợp thời điểm thu hoạch và giao hàng có thể giúp các hộ sản xuất chủ động hơn, hạn chế lãng phí và gắn hoạt động canh tác với nhu cầu thực tế.

Đáng chú ý, hợp tác xã còn hướng dẫn thành viên sử dụng mạng xã hội để giới thiệu nông sản, xây dựng nội dung và quay video quảng bá sản phẩm. Đây không đơn thuần là học thêm một kỹ năng công nghệ. Đó là sự thay đổi trong cách người dân nhìn nhận hoạt động sản xuất: sản phẩm không chỉ cần làm ra tốt, mà còn phải được giới thiệu đúng cách, đến đúng khách hàng và tạo dựng được niềm tin.

Cũng tại Sơn La, Hợp tác xã Nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, với 18 thành viên là đồng bào dân tộc Thái, đã ứng dụng các nền tảng số để quảng bá cà phê đặc sản. Theo nguồn tin nêu trên, hợp tác xã có 30ha cà phê sản xuất theo hướng hữu cơ, an toàn; các thành viên sử dụng nhóm Zalo, Facebook để trao đổi kỹ thuật, cập nhật thông tin thị trường, đồng thời phát triển các kênh trực tuyến giới thiệu quy trình trồng, chế biến sản phẩm. Năm 2024, hợp tác xã đạt doanh thu gần 8 tỷ đồng.

Từ những mô hình này, có thể thấy kinh tế số ở vùng cao không chỉ là câu chuyện đưa hàng hóa lên sàn thương mại điện tử. Giá trị sâu xa hơn nằm ở việc người dân tiếp cận thông tin nhanh hơn, kết nối với nhau thuận lợi hơn, hiểu thị trường rõ hơn và từng bước tham gia chủ động vào chuỗi giá trị. Khi hợp tác xã làm tốt vai trò kết nối, những hộ sản xuất nhỏ lẻ có thể cùng xây dựng chất lượng đồng đều, tổ chức nguồn cung và tiếp cận các thị trường mà từng hộ khó tự mình vươn tới.

17.jpg

HTX nông nghiệp bản Sàng Nà Tre, xã Chiềng Mai giới thiệu sản phẩm cà phê đặc sản. Ảnh: BSL

Để tri thức bén rễ, cần những điều kiện bền vững

Dẫu vậy, không thể kỳ vọng khoa học và công nghệ tạo ra thay đổi bền vững chỉ bằng vài lớp tập huấn hay việc trang bị một số công cụ số. Khoảng cách về hạ tầng, kỹ năng, nguồn vốn và khả năng tiếp cận thông tin vẫn là những rào cản cần được giải quyết. Với một số hộ dân, việc sử dụng nền tảng số để quảng bá sản phẩm còn mới mẻ; việc đầu tư thiết bị, bao bì, bảo quản hay đáp ứng yêu cầu chất lượng cũng cần thời gian và nguồn lực.

Bởi thế, hỗ trợ ứng dụng khoa học, công nghệ cần gắn với nhu cầu cụ thể của từng địa bàn và từng nhóm sản xuất. Cán bộ kỹ thuật, cơ quan chuyên môn, nhà khoa học và doanh nghiệp cần phối hợp chặt chẽ hơn trong hướng dẫn, chuyển giao và theo dõi kết quả sau hỗ trợ. Hợp tác xã cần được nâng cao năng lực quản trị, xây dựng phương án kinh doanh và tổ chức liên kết tiêu thụ. Người dân cần được hướng dẫn bằng phương pháp dễ hiểu, dễ thực hành, có cơ hội áp dụng ngay vào công việc hằng ngày.

Đặc biệt, cần đánh giá hiệu quả mô hình bằng những thay đổi thực chất trong đời sống: chất lượng sản phẩm có được cải thiện không, chi phí và tổn thất có giảm không, đầu ra có ổn định hơn không, thu nhập của người dân có tăng lên và duy trì được hay không. Đây mới là những thước đo quan trọng để phân biệt một hoạt động hỗ trợ mang tính thời điểm với một mô hình có khả năng nhân rộng.

Trong quá trình ấy, đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng tiếp nhận chính sách, mà phải là chủ thể tham gia lựa chọn, vận hành và phát triển mô hình. Tôn trọng tri thức bản địa, lắng nghe nhu cầu của người dân và tạo điều kiện để họ làm chủ công nghệ sẽ giúp các giải pháp phù hợp hơn với thực tế, đồng thời củng cố niềm tin và động lực đổi mới từ bên trong cộng đồng.

Khơi nguồn tri thức cho vùng cao, suy cho cùng, không phải đưa những điều xa lạ đến thay thế cách sống vốn có, mà giúp người dân có thêm kiến thức và công cụ để phát huy tốt hơn những gì quê hương đang sở hữu. Khi khoa học gắn với đất đai, công nghệ gắn với thị trường và chính sách gắn với nhu cầu thực tế, tiềm năng bản địa sẽ có thêm cơ hội chuyển hóa thành giá trị kinh tế.

Con đường nâng tầm sinh kế vùng cao vì thế không chỉ bắt đầu từ nguồn vốn hay những công trình hạ tầng, mà còn từ năng lực của mỗi người dân trong việc học hỏi, đổi mới và làm chủ quá trình phát triển. Khi tri thức thực sự bén rễ trong từng hộ gia đình, hợp tác xã và bản làng, đó cũng là lúc nền tảng cho sinh kế bền vững được vun đắp từ chính nội lực của cộng đồng.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết