A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Gia đình 3 giáo sư và lời hẹn ước phụng sự quê hương

Gần cuối năm 2025, gia đình GS, TS Nguyễn Ngọc Phú và GS, TS Lộc Phương Thủy nhận thêm một tin vui: Con gái duy nhất của ông bà là PGS, TS Nguyễn Phương Ngọc, Phó hiệu trưởng Trường Nghệ thuật, Văn học, Ngôn ngữ và Khoa học nhân văn, Đại học Aix-Marseille (Cộng hòa Pháp) vinh dự nhận học hàm giáo sư.

Điều ông bà tâm đắc ở người con gái duy nhất là sự kế thừa truyền thống hiếu học, nỗ lực hết mình với tri thức và một lòng nguyện cống hiến tài năng cho tập thể, cho đất nước.

Cả gia đình là giáo sư và 3 năm bên nhau trọn vẹn

Gia đình có nhiều giáo sư vốn đã ít và cả nhà đều là giáo sư ở Việt Nam lại càng hiếm gặp. GS, TS Nguyễn Ngọc Phú, GS, TS Lộc Phương Thủy và GS, TS Nguyễn Phương Ngọc đã cống hiến hết mình cho sự nghiệp nghiên cứu, học tập, giảng dạy vì tri thức Việt. Hơn nửa thế kỷ kể từ ngày ông bà kết hôn, cùng nhìn lại, họ chợt nhận ra rằng, 3 người thực ra chỉ được ở bên nhau trọn vẹn 3 năm.

Gia đình GS, TS Nguyễn Ngọc Phú; GS, TS Lộc Phương Thủy và GS, TS Nguyễn Phương Ngọc. Ảnh do nhân vật cung cấp 

Đại tá, GS, TS Nguyễn Ngọc Phú, nguyên Chủ nhiệm Khoa Tâm lý học, Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng, hiện là Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Tâm lý-Giáo dục Việt Nam, là người truyền động lực học tập, cống hiến trong gia đình. Suốt những năm đi chiến đấu ác liệt, hành trang không thể thiếu của người chiến sĩ ham học Nguyễn Ngọc Phú là cuốn Từ điển Việt-Nga. Nhờ tự học nên khi về giảng dạy tại Khoa Tâm lý-Giáo dục Quân sự của Học viện Chính trị, ông đã có thể đọc và dịch nhiều tài liệu tiếng Nga từ sớm. Giỏi tiếng Nga cũng là tiền đề quan trọng để ông có thể đi Liên Xô làm nghiên cứu sinh. Nhưng học quá miệt mài cũng từng là lý do để có người nghi ngờ hỏi ông trong tổ Đảng: “Học với động cơ gì?”. Ông chỉ nói thật: “Đảng phân công tôi dạy tâm lý học quân sự nên tôi phải đọc tài liệu, đọc sách của Liên Xô để nghiên cứu, giảng dạy sao cho tốt hơn”. Ông là chủ biên, đồng chủ biên hàng loạt đầu sách chuyên môn về tâm lý, giáo dục.

Không chỉ bản thân luôn nỗ lực, ông còn là chỗ dựa tinh thần, động viên GS, TS Lộc Phương Thủy (nguyên Trưởng ban Văn học nước ngoài, Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) học tập, nghiên cứu. Bà chính là nữ giáo sư dân tộc Tày đầu tiên của Việt Nam gây ngỡ ngàng đối với giới học thuật vì đây là lần đầu tiên có một nữ giáo sư văn học được xét duyệt, bỏ phiếu tín nhiệm tại một hội đồng giáo sư chuyên ngành. 

Ít ai biết, phía sau danh hiệu ấy là chuỗi năm tháng vượt khó bền bỉ của bà. Sinh ra ở tỉnh miền núi Sơn La, trong một gia đình đông con, kinh tế thiếu thốn, bà là chị cả, từng được cha định hướng rằng chỉ học đến lớp 5 rồi đi làm công nhân. Nhưng dù chỉ buổi sáng được đến lớp, thời gian còn lại phải làm việc nhà, bà vẫn rất ham học và học giỏi nên cha không đành lòng bắt nghỉ học.

Khi lập gia đình, chồng ra chiến trường, bà một mình vượt cạn, nuôi con nhỏ. Khi đang là giảng viên trẻ của Trường Đại học Sư phạm Việt Bắc, sơ tán lên vùng cao Thái Nguyên, không nhà dân nào nhận vì có con nhỏ, hai mẹ con bà phải sống tạm ở góc nhà tranh vách đất, gần văn phòng khoa, biệt lập với khu dân cư, lại sát nghĩa địa. Chợ xa, không người trông con, những bữa đói thường xuyên xảy ra. Đêm rét, bà đốt củi sưởi ấm, có lần lửa bén vào màn, vào tất. Đêm nghe tiếng gió lùa, trong khi phải đối mặt với bao khó khăn bủa vây, có những lần hai mẹ con chỉ biết ôm nhau khóc. Mãi sau này, khi mẹ bà lên thăm, thấy con gái quá thiếu thốn nên khi về đã bảo con trai đạp xe từ Gia Lâm (Hà Nội) lên, mang cho vài mớ rau ngót, 1kg bột và nhờ con gái út lên trông con giúp chị.

Vất vả là vậy nhưng đêm đêm ôm con trên chiếc giường nứa nhỏ xíu, bà vẫn thắp đèn dầu học tiếng Nga. Sau này, để chuẩn bị đi nghiên cứu sinh, bà ở tạm căn nhà rộng 9m2 tại Hà Nội cùng mẹ chồng để học bổ túc. Nhiều hôm mẹ đẻ sang thăm, thấy con gái một tay cầm quạt, một tay cầm khăn nhúng nước thấm mồ hôi, ngồi ôm chiếc bàn nhỏ để học, đã thốt lên: “Học làm gì? Sao phải khổ thế?”. Năm đó bà là thủ khoa của khóa-một điều không tưởng đối với nhiều người.

Ngày ông chuyển về Hà Nội làm việc cũng là lúc bà được cử đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô. Bà bảo vệ thành công luận án Tiến sĩ của Trường Đại học Tổng hợp Leningrad trước thời hạn 5 tháng. Một thời gian ngắn sau khi bà về nước và chuyển đến công tác ở Viện Văn học để cống hiến nhiều hơn cho lĩnh vực nghiên cứu thì ông lại tiếp tục đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô.

Mãi đến khi Nguyễn Phương Ngọc 14 tuổi, gia đình mới được sống chung một nhà. Ít lâu sau, Nguyễn Phương Ngọc cũng đi học ở Liên Xô, Pháp và ở lại Pháp theo tiếng gọi của tình yêu.

3 năm trong tổng số 56 năm, gia đình họ phải trải qua những quyết định quan trọng với nhiều khó khăn. Đi học hay ở lại trong nước chăm sóc tổ ấm nhỏ giữa thời buổi đói kém; ở lại cơ quan nhà nước hay bung ra ngoài với cơ chế thị trường, họ luôn thống nhất một điều: Không xao lãng với tri thức, khoa học. GS, TS Nguyễn Ngọc Phú từng tâm sự: “Thực ra học là khổ, làm sách, viết bài cũng rất vất vả, nhưng muốn vươn lên, muốn thực sự cống hiến cho đất nước thì phải học, phải sống bằng chính trí tuệ của mình”.

Một gia đình, 3 con người, 3 hành trình riêng, nhưng cùng hội tụ ở một điểm chung: Lấy tri thức làm lẽ sống, lấy học tập làm con đường bền bỉ nhất để phụng sự đất nước.

Góp phần gắn kết nhịp cầu Việt - Pháp

Kế thừa truyền thống hiếu học, vượt qua mọi khó khăn có lẽ là điều dễ nhìn thấy ở GS, TS Nguyễn Phương Ngọc. Ngày còn nhỏ liên tục phải chuyển nhà nhưng ngồi ở đâu Nguyễn Phương Ngọc cũng ôm sách học. Lớn lên, được đi Liên Xô học vì thi đỗ thủ khoa nhưng sang nước bạn vào thập niên 1990 là khoảng thời gian vô cùng khó khăn. Chị tự nhủ mình không được ốm, bởi ốm không chỉ ảnh hưởng tới cuộc sống, công việc, học tập mà còn khiến bố mẹ ở xa lo lắng. Một mình nơi đất khách, cô gái nhỏ cố giữ sức khỏe và tự tìm cách chữa bệnh cho mình bằng phương pháp dân gian học được từ ông ngoại.

Đi Nga về lại đỗ học bổng sang Pháp nghiên cứu sinh, chị dần vượt qua những rào cản mới đầy xa lạ, vượt qua sự kỳ thị bởi là một phụ nữ châu Á. Ở lại Pháp theo tiếng gọi của tình yêu nhưng quê hương, đất nước, lịch sử, văn hóa Việt Nam vẫn là đề tài chị miệt mài theo đuổi. Dần dần, bằng năng lực và tinh thần luôn vì tập thể, nên dù Việt Nam chỉ là nước nhỏ so với các nền văn minh châu Á lớn khác, chị vẫn được đồng nghiệp tín nhiệm và trở thành Trưởng khoa châu Á, rồi Viện trưởng Viện Nghiên cứu châu Á (đồng trực thuộc Đại học Aix-Marseille và Trung tâm Nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp) rồi Phó hiệu trưởng Trường Nghệ thuật, Văn học, Ngôn ngữ và Khoa học nhân văn (Đại học Aix-Marseille).

Đại học Aix-Marseille hiện là đại học lớn nhất trong khối Pháp ngữ. Trường Nghệ thuật, Văn học, Ngôn ngữ và Khoa học nhân văn là một trong những đơn vị lớn và lâu đời nhất của Đại học Aix-Marseille, quy tụ khoảng 16.000 sinh viên và 26 khoa giảng dạy. Là Phó hiệu trưởng với rất nhiều công việc quản lý không tên, nhưng hiện nay GS, TS Nguyễn Phương Ngọc vẫn miệt mài với công việc giảng dạy và nghiên cứu Việt Nam học, bởi chị tâm niệm: “Càng có nhiều nghiên cứu, nhiều tri thức mới, độc giả thế giới càng biết tới Việt Nam nhiều hơn. Từ đó họ càng quan tâm, hiểu và có thiện cảm hơn với đất nước, con người Việt Nam”.

Kể lại câu chuyện ban đầu khi Ngọc quyết định ở lại Pháp, GS, TS Lộc Phương Thủy có chút lo lắng vì đất nước có thể bị “chảy máu chất xám”. Chỉ khi nghe con gái hứa sẽ mang chất xám về Việt Nam chứ không để chảy đi, bà mới yên tâm. Không chỉ có nhiều nghiên cứu chuyên sâu, góp phần lý giải lịch sử, đưa văn hóa, con người Việt Nam đến gần với giới nghiên cứu thế giới, giờ đây, GS, TS Nguyễn Phương Ngọc đã và đang thực hiện được lời hứa với bố mẹ khi liên tục về nước với nhiều dự án hỗ trợ Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Trường Đại học Sư phạm (Đại học Huế)... tổ chức nhiều hội thảo, tập huấn, trao đổi giáo viên và đào tạo sinh viên. Vận động phía Pháp có thêm nhiều học bổng cho người Việt, chị trực tiếp góp phần không nhỏ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong một số lĩnh vực khi là “cầu nối” mang đến học bổng chuyên ngành, trao đổi nghiên cứu, tiếp xúc học thuật hai chiều. Đặc biệt, GS, TS Nguyễn Phương Ngọc đang cùng các đồng nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) công nhận khối tài liệu thời Pháp-hiện được lưu giữ tại các Trung tâm Lưu trữ quốc gia số 1, 2, 4 của Việt Nam và tại Pháp-là Di sản tư liệu thế giới. Đây là kết quả của nhiều năm hợp tác, nghiên cứu và trao đổi học thuật giữa hai quốc gia.

Gần đây nhất, cuối năm 2025, chị cùng một số đồng nghiệp Pháp tham gia điều hành Hội thảo Khoa học quốc tế Văn hóa và Giáo dục lần thứ 6-ICCE.2025 mang tên “Văn hóa và giáo dục trong kỷ nguyên số hướng tới phát triển bền vững” với một số trường đại học, cơ quan nghiên cứu trong nước cùng cộng tác tham gia, tổ chức tại Trường Đại học Sư phạm (Đại học Thái Nguyên); Hội thảo “Nguồn tài liệu lưu trữ về quan hệ Việt Nam và Pháp-tiếp cận liên ngành” tại Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội)... Điều đáng nói là, các nhà khoa học châu Âu, châu Á làm việc cùng GS, TS Nguyễn Phương Ngọc đều rất tin yêu, nể phục, sẵn sàng cùng bà về giúp đỡ Việt Nam. Tham dự Hội thảo “Nguồn tài liệu lưu trữ về quan hệ Việt Nam và Pháp-tiếp cận liên ngành”, GS, TS Guy Le Thiec, Hiệu trưởng Trường Nghệ thuật, Văn học, Ngôn ngữ và Khoa học nhân văn (Đại học Aix-Marseille) bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới GS, TS Nguyễn Phương Ngọc vì đã luôn hết lòng góp phần phát triển hợp tác khoa học và đào tạo giữa các nhà khoa học Pháp và Việt Nam.


Tags: Giáo sư
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết