A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Gia Lai mở rộng không gian logistics, đưa nông sản vươn ra biển

Với vùng nguyên liệu lớn và kim ngạch xuất khẩu ngày càng tăng, Gia Lai đang mở rộng không gian logistics, từng bước kết nối nông sản Tây Nguyên với cảng biển và thị trường quốc tế.

Cảng Quy Nhơn là một trong những đầu mối trung chuyển hàng hóa hàng đầu của Gia La. Ảnh: Song Việt

Gia Lai có khoảng 108.987ha cà phê, sản lượng ước đạt 341.022 tấn/năm; hơn 86.000ha cao su, sản lượng 79.249 tấn; trên 8.932ha sầu riêng, sản lượng 50.054 tấn; 40.226ha điều, sản lượng 38.125 tấn; 83.675ha mì, sản lượng khoảng 1,72 triệu tấn. Đây là nguồn hàng lớn, tạo nền tảng quan trọng để tỉnh phát triển công nghiệp chế biến, xuất khẩu và dịch vụ logistics.

Cùng với đó, Gia Lai đã hình thành 9 vùng nguyên liệu cây trồng chủ lực gồm cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, mía, sắn (mì), sầu riêng, chuối và chanh dây. Các vùng chuyên canh tập trung này gắn liền với 217 chuỗi liên kết sản xuất và nhiều mã số vùng trồng phục vụ chế biến, xuất khẩu. Đặc biệt, tỉnh hiện có 451 mã số vùng trồng với tổng diện tích hơn 13.420ha, trong đó 346 mã số vùng trồng xuất khẩu được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt, với diện tích hơn 11.660ha.

Nhiều mặt hàng chủ lực của Gia Lai như chanh dây, chuối, cà phê, hồ tiêu, sầu riêng… từng bước mở rộng thị trường sang EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản và nhiều thị trường khác. Đến nay, nông sản của tỉnh đã có mặt tại hơn 60 quốc gia, tạo nguồn hàng lớn cho hoạt động vận tải, kho bãi, chế biến và xuất khẩu.

Trong cơ cấu xuất khẩu, cà phê tiếp tục giữ vai trò nổi bật. Riêng tháng 7/2026, kim ngạch xuất khẩu cà phê của Gia Lai ước đạt 66,18 triệu USD, nâng tổng kim ngạch 7 tháng lên 976,45 triệu USD, chiếm khoảng 41,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh.

Gia Lai đang mở rộng không gian logistics. Ảnh: Hoàng Phúc

Quy mô xuất khẩu này đặt ra yêu cầu ngày càng lớn đối với hạ tầng logistics, nhất là trong bối cảnh Gia Lai đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt tổng kim ngạch xuất khẩu trên 17 tỷ USD. Theo Kế hoạch phát triển logistics Gia Lai thời kỳ 2025-2035, tầm nhìn đến năm 2050, tỉnh hướng đến xây dựng hệ thống logistics đồng bộ, kết nối vùng nguyên liệu với cửa khẩu, cảng biển, cảng cạn (ICD), kho lạnh và các trung tâm phân phối hàng hóa.

Các tuyến quốc lộ 14, 19 và 25 đang tạo mạng lưới kết nối quan trọng, giúp vận chuyển hàng hóa từ các vùng sản xuất ở Tây Nguyên đến các trung tâm logistics và cảng biển. Nhiều công trình giao thông chiến lược đang được đầu tư, trong đó có cao tốc Bắc - Nam phía Đông qua địa bàn tỉnh dài khoảng 118km, cao tốc Quy Nhơn - Pleiku dài khoảng 125km.

Phát biểu tại hội thảo “Hạ tầng liên vùng - Động lực thu hút đầu tư, phát triển du lịch miền Trung - Tây Nguyên” diễn ra ngày 13/8/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Anh Tuấn nhấn mạnh, khi hoàn thành, cao tốc Quy Nhơn - Pleiku sẽ tạo trục kết nối chiến lược giữa Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, dự kiến rút ngắn thời gian di chuyển giữa Quy Nhơn và Pleiku xuống dưới 2 giờ.

Gia Lai cũng định hướng nâng cao năng lực khai thác các cảng hàng không, phát triển các trung tâm logistics gắn với cảng biển, ICD, kho lạnh và trung tâm phân phối hàng hóa. Đây được xem là những mắt xích quan trọng để kết nối vùng nguyên liệu Tây Nguyên với hệ thống cảng biển miền Trung và thị trường quốc tế.

Hàng hóa được tập kết tại Cảng Quy Nhơn chờ xuất ra thị trường. Ảnh: Song Việt

Theo ông Lã Đình Thu - Giám đốc Công ty TNHH Vạn Khánh Thu (phường Quy Nhơn Nam), vấn đề của nông sản Tây Nguyên hiện nay nằm ở chi phí vận chuyển và thời gian lưu thông. Khi cao tốc Quy Nhơn - Pleiku hoàn thành cùng với việc hình thành các trung tâm logistics, thời gian vận chuyển được rút ngắn sẽ góp phần giảm chi phí logistics từ mức hiện tại xuống còn 12-15% giá trị hàng hóa theo mục tiêu kế hoạch và hướng đến 10-12% vào năm 2050.

Cùng với đó, việc ưu tiên phát triển hệ thống kho bãi, các điểm tập kết, sơ chế, đóng gói ngay tại vùng nguyên liệu sẽ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí lưu kho và vốn lưu động, nâng cao hiệu quả xuất khẩu. “Gia Lai đang hội đủ những gì cần thiết cho một vùng nông sản xuất khẩu cạnh tranh quốc tế. Đó là vùng nguyên liệu nông sản hàng đầu, hành lang logistics đang hình thành và chính sách hỗ trợ rõ ràng”, ông Thu nhấn mạnh.

Từ góc độ doanh nghiệp vận chuyển vận tải, ông Phạm Lý Hà - Giám đốc Công ty TNHH MCD Tây Nguyên (phường Pleiku) cho biết, mỗi năm doanh nghiệp vận chuyển hàng nghìn tấn nông sản từ khu vực Tây Nguyên đi nhiều nơi. Khi các tuyến cao tốc kết nối Tây Nguyên với vùng Quy Nhơn hoàn thiện, thời gian và chi phí vận chuyển sẽ giảm, qua đó tăng sức cạnh tranh của hàng hóa và lượng hàng thông thương qua Cảng Quy Nhơn.

Hạ tầng giao thông ở Gia Lai ngày càng hoàn thiện. Ảnh: Nguyễn Gia

Thậm chí, một số doanh nghiệp ở Quảng Ngãi (khu vực tỉnh Kon Tum cũ), Đắk Lắk cũng có thể cân nhắc đưa hàng về Cảng Quy Nhơn thay vì TP Hồ Chí Minh như hiện nay. Đây là cơ sở để doanh nghiệp logistics mở rộng phạm vi hoạt động, không chỉ phục vụ nguồn hàng tại Gia Lai mà còn kết nối với các vùng nguyên liệu lân cận.

Doanh nghiệp kỳ vọng hạ tầng giao thông và logistics được đầu tư đồng bộ sẽ tạo điều kiện hình thành chuỗi liên kết Tây Nguyên - Quy Nhơn, đồng thời mở rộng thị trường sang Lào, Campuchia. Khi hệ thống logistics vận hành thông suốt, các mặt hàng chủ lực như trái cây, cà phê, hồ tiêu, cao su... sẽ có điều kiện giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Hiện nay, Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam đang thực hiện thủ tục để cầu cảng số 4 được tiếp nhận tàu đến 63.550DWT; Bộ Xây dựng đã chấp thuận chủ trương tiếp nhận tàu hàng tổng hợp, tàu container trọng tải đến 85.000DWT giảm tải vào, rời cầu cảng số 1.

Việc nâng khả năng tiếp nhận tàu lớn sẽ tạo điều kiện để nhiều mặt hàng xuất nhập khẩu được vận chuyển trực tiếp qua Cảng Quy Nhơn, giảm nhu cầu trung chuyển qua các cảng nước sâu khác, qua đó rút ngắn thời gian và giảm chi phí logistics. Và khi đó, Gia Lai sẽ có thêm điều kiện thu hút các hãng tàu mở tuyến dịch vụ trực tiếp đến các cảng quốc tế


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết