Giám đốc Sở Văn hóa Đắk Lắk: Phải để cồng chiêng sống trong đời sống cộng đồng
Tiếng cồng, tiếng chiêng từ lâu là biểu tượng của đại ngàn Tây Nguyên, tuy nhiên giờ đây không gian thực hành cồng chiêng ngày càng thu hẹp, nhiều nghệ nhân đã lớn tuổi trong khi lớp trẻ chưa thực sự gắn bó với di sản.

Một tiết mục diễn tấu cồng chiêng kết hợp với điệu múa truyền thống của người Tây Nguyên. Ảnh: N.Giàu
Ông Trần Hồng Tiến - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk cho rằng, bảo tồn Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ dừng ở việc tổ chức lễ hội hay biểu diễn, mà quan trọng hơn là để cồng chiêng thực sự hiện diện trong đời sống cộng đồng.
Sau gần hai thập kỷ kể từ khi Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, Đắk Lắk đã ban hành nhiều chính sách bảo tồn. Giai đoạn 2005-2025, tỉnh ban hành 5 nghị quyết chuyên đề cùng nhiều kế hoạch, đề án nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
Trong 5 năm gần đây, địa phương cấp phát 214 bộ cồng chiêng và 1.140 bộ trang phục truyền thống; tổ chức 32 lớp truyền dạy cồng chiêng, nhạc cụ dân tộc, dân ca, dân vũ và sử thi với hơn 600 học viên tham gia. Nhiều nghi lễ truyền thống cũng được phục dựng, góp phần duy trì các giá trị văn hóa gắn với cồng chiêng.
Tuy nhiên, theo ông Tiến, vẫn còn khoảng cách giữa hoạt động bảo tồn và đời sống thực tế. Ở nhiều nơi, cồng chiêng chủ yếu xuất hiện trong các lễ hội, hội thi hoặc sự kiện văn hóa, trong khi việc thực hành thường xuyên tại buôn làng chưa đồng đều. Có địa phương thành lập đội cồng chiêng nhưng sinh hoạt không thường xuyên; sau các lớp truyền dạy chưa có cơ chế hỗ trợ để học viên tiếp tục luyện tập. Việc gắn bảo tồn với giáo dục và du lịch cộng đồng cũng mới triển khai ở một số nơi.

Ông Trần Hồng Tiến - Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk. Ảnh: N.Giàu
Lý giải nguyên nhân, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết môi trường tồn tại của di sản đã thay đổi mạnh. Không gian cồng chiêng vốn gắn với buôn làng, nhà dài, bến nước, nương rẫy và các nghi lễ truyền thống. Quá trình đô thị hóa, thay đổi phương thức sản xuất, kiến trúc nhà ở cùng tác động của công nghệ số khiến không gian thực hành tự nhiên ngày càng thu hẹp.
Bên cạnh đó, sự thay đổi về tín ngưỡng làm giảm tần suất tổ chức nhiều nghi lễ gắn với cồng chiêng. Đội ngũ nghệ nhân ngày càng cao tuổi, trong khi một bộ phận thanh thiếu niên chưa có nhiều điều kiện và động lực để tiếp nối. Khó khăn kinh tế của nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu số cũng ảnh hưởng đến việc duy trì sinh hoạt văn hóa truyền thống.
Từ thực tế trên, ngành văn hóa Đắk Lắk xác định chuyển từ phương thức "bảo tồn theo sự kiện" sang "bảo tồn dựa vào cộng đồng", lấy việc thực hành thường xuyên làm thước đo hiệu quả.
Thời gian tới, tỉnh sẽ triển khai Nghị quyết số 03 của HĐND tỉnh Đắk Lắk về chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát huy giá trị di sản cồng chiêng; đồng thời xây dựng đề án bảo tồn gắn với Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa. Ngành văn hóa cũng sẽ rà soát, xây dựng cơ sở dữ liệu về nghệ nhân, đội và câu lạc bộ cồng chiêng; nhân rộng các mô hình hiệu quả, tăng cường truyền dạy cho thế hệ trẻ và có chính sách hỗ trợ nghệ nhân.

Cồng chiêng cần có không gian để kết nối con người với cộng đồng, tín ngưỡng và bản sắc văn hóa. Ảnh: N.Giàu
"Bảo tồn cồng chiêng không chỉ là lưu giữ những bộ chiêng hay bài chiêng cổ, mà còn phải gìn giữ không gian văn hóa đã tạo nên sức sống của di sản. Nếu buôn làng, nhà dài, bến nước, nương rẫy và các nghi lễ truyền thống dần mai một thì tiếng cồng chiêng, dù vẫn vang lên trên sân khấu, cũng khó giữ trọn giá trị vốn có", ông Trần Hồng Tiến nhấn mạnh.
Theo người đứng đầu ngành văn hóa Đắk Lắk, chỉ khi cồng chiêng được người dân sử dụng trong đời sống hằng ngày, được thế hệ trẻ tiếp nối bằng niềm tự hào, di sản mới có thể được gìn giữ bền vững. Giá trị của Không gian văn hóa Cồng chiêng không nằm ở những cuộc trình diễn, mà ở việc tiếng chiêng vẫn ngân vang giữa buôn làng như một phần tự nhiên của đời sống cộng đồng.





