Kinh tế số Việt Nam đang chuyển từ tăng trưởng lượng sang chất
PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế (Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam) cho rằng kinh tế số Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển từ tăng trưởng về lượng sang nâng chất lượng phát triển, khi các hoạt động số ngày càng lan tỏa sâu vào sản xuất, thương mại, tài chính và dịch vụ công.
Theo chuyên gia, với tốc độ tăng trưởng thuộc nhóm cao nhất ASEAN, kinh tế số không chỉ tạo thêm dư địa cho tăng trưởng GDP, mà còn trở thành động lực quan trọng thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy giai đoạn 2021 - 2025 ghi nhận bước tăng trưởng mạnh của kinh tế số Việt Nam, với quy mô giá trị tăng thêm năm 2025 ước đạt khoảng 72,1 tỷ USD, gấp 1,64 lần so với năm 2020.
Tỷ trọng giá trị tăng thêm của kinh tế số trong GDP đã tăng từ 12,87% năm 2021 lên khoảng 14,02% năm 2025. Bình quân cả giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế số đóng góp khoảng 13,2% GDP.
Đáng chú ý, năm 2025 ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất trong cả giai đoạn, với tốc độ tăng khoảng 18,4% theo giá hiện hành. Nếu tính theo giá so sánh, giá trị tăng thêm của kinh tế số tăng khoảng 11,8% so với năm trước, cho thấy sức bật của các hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ trong bối cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động.
Nhiều lĩnh vực ghi nhận chuyển biến rõ nét như thương mại điện tử, tài chính - ngân hàng số, logistics, dịch vụ lưu trú và ăn uống ứng dụng công nghệ. Việc ứng dụng công nghệ số giúp doanh nghiệp tối ưu quy trình, giảm chi phí và mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng.
Không chỉ tạo chuyển biến ở cấp độ quốc gia, kinh tế số còn trở thành yếu tố tạo khác biệt trong tăng trưởng GRDP của nhiều địa phương, đặc biệt tại các tỉnh, thành có lợi thế về hạ tầng công nghệ và công nghiệp điện tử.

PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng kinh tế số đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng, thúc đẩy chuyển dịch mô hình phát triển của Việt Nam. Ảnh: Đ.H
Trao đổi với Báo Thanh tra, PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế thuộc Hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, cho rằng kinh tế số hiện là động lực tăng trưởng nhanh nhất của nền kinh tế.
Theo ông Long, ước tính trong nửa đầu năm 2024, kinh tế số chiếm khoảng 18,5% GDP, tăng khoảng 2 điểm phần trăm so với năm trước, với tốc độ tăng trưởng trên 20%/năm, thuộc nhóm cao nhất ASEAN.
"Một số báo cáo quốc tế cho thấy quy mô kinh tế số Việt Nam năm 2024 đạt khoảng 36 - 45 tỷ USD và có khả năng tiến tới mốc 20% GDP vào năm 2025, khoảng 30% GDP vào năm 2030 nếu duy trì được đà tăng hiện nay", ông Long cho biết.
Để kinh tế số thực sự tạo bứt phá trong giai đoạn tới, cần hoàn thiện đồng bộ luật chơi cho dữ liệu, kinh tế số, thị trường carbon, tài chính xanh và bán dẫn; mở rộng sandbox, đồng thời cam kết ổn định chính sách dài hạn để nhà đầu tư yên tâm với các dự án 20 - 30 năm.
PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế.
Theo chuyên gia, nếu các lĩnh vực thuộc "kinh tế số rộng" như thương mại điện tử, fintech, logistics số hay dịch vụ nền tảng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng 20 - 25%/năm, trong khi các khu vực truyền thống tăng trưởng tốt, mục tiêu tăng trưởng chung hai con số là khả thi.
Tuy vậy, ông Long cho rằng để kinh tế số thực sự trở thành động lực tăng trưởng dài hạn, Việt Nam vẫn cần tháo gỡ nhiều điểm nghẽn về thể chế, hạ tầng và nguồn nhân lực. Trong đó, khung pháp lý cho dữ liệu, AI, kinh tế nền tảng, tài sản số hay thị trường carbon hiện còn phân tán, thiếu tính dự báo dài hạn. Cơ chế sandbox cho các mô hình kinh doanh mới vẫn còn hạn chế và chưa đủ "mở" để doanh nghiệp mở rộng quy mô.
Bên cạnh đó, hạ tầng số cốt lõi như trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, 5G hay an ninh mạng vẫn thiếu chuẩn quốc tế để thu hút các nền tảng công nghệ lớn. Chi phí kết nối và lưu trữ dữ liệu vẫn là rào cản với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Theo ông Long, năng lực truyền tải điện cũng chưa theo kịp tốc độ phát triển của năng lượng tái tạo, dẫn tới tình trạng "thừa công suất nhưng thiếu điện thực", ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển kinh tế xanh và kinh tế số trong dài hạn.
Để kinh tế số tiếp tục tạo bứt phá trong giai đoạn tới, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng Việt Nam cần tập trung vào bốn nhóm giải pháp trọng tâm.
Trong đó, ưu tiên hàng đầu là đột phá thể chế, hoàn thiện khung pháp lý cho dữ liệu, kinh tế số, thị trường carbon, tài chính xanh và bán dẫn; đồng thời mở rộng cơ chế sandbox và bảo đảm tính ổn định chính sách dài hạn cho các dự án chiến lược.
Bên cạnh đó, Việt Nam cần ưu tiên đầu tư đồng thời cho hạ tầng số và hạ tầng xanh, từ nâng cấp lưới điện truyền tải, thúc đẩy cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA), đến phát triển trung tâm dữ liệu, 5G và điện toán đám mây.
Một yêu cầu khác là xây dựng chiến lược nhân lực quy mô lớn gắn với nhu cầu doanh nghiệp, trong đó có các chương trình đào tạo kỹ sư số, kỹ sư bán dẫn và kỹ sư năng lượng theo mô hình liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp và trường đại học.
Theo ông Long, cùng với phát triển thị trường vốn cho đổi mới sáng tạo và tài chính xanh, Việt Nam cũng cần tăng liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước thông qua các cam kết chuyển giao công nghệ, sử dụng nhà cung cấp nội địa và đặt trung tâm R&D tại Việt Nam.
"Nếu tháo gỡ được các điểm nghẽn này, kinh tế số sẽ không chỉ là một xu hướng công nghệ, mà trở thành trụ cột tái cấu trúc mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong thập kỷ tới", ông Long nhận định.





