Thời cơ vàng cho hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh tại Việt Nam
Sau nhiều năm thị trường truyện tranh Việt Nam bị lấn át bởi làn sóng truyện tranh từ nước ngoài thì mới đây việc Chính phủ có động thái mạnh tay hơn với vi phạm bản quyền được kỳ vọng sẽ tạo cơ hội cho truyện tranh Việt Nam bứt phá. Khi “khoảng trống thị trường” xuất hiện, đây chính là thời điểm để các doanh nghiệp và nhà sáng tạo nội dung hợp lực xây dựng một hệ sinh thái bài bản cho nền công nghiệp truyện tranh.
“Khoảng trống” của hệ sinh thái công nghiệp văn hóa
Trên thế giới, ngành công nghiệp truyện tranh từ lâu đã thoát ly khỏi định kiến là “thức quà giải trí” dành riêng cho con trẻ để trở thành một quyền lực mềm, một ngành kinh tế sinh lợi tỷ đô. Tuy nhiên, ở Việt Nam, thị trường truyện tranh còn khá non trẻ. Sự chú ý đến truyện tranh chỉ thực sự bắt đầu từ năm 1992, khi NXB Kim Đồng cho ra mắt bộ truyện tranh Đôrêmon của tác giả người Nhật Bản Fujiko F Fujio.
Từ “cú hích” Đôrêmon, những năm sau đó nhiều truyện tranh “made in Việt Nam” lần lượt ra mắt như “Dũng sĩ Hesman” của Hùng Lân; “Thần đồng đất Việt” của Lê Linh; “Cô Tiên xanh”, “Trạng Quỳnh”, “Cậu bé rồng” của Kim Khánh... Gần đây, đáng chú ý có truyện tranh kinh dị “13 giờ sáng” của Lương Minh Quang - tác phẩm giành giải Bạc tại International Manga Award lần thứ 19 tại Nhật Bản. Hay như các tác phẩm “Mùa hè bất tận” và “Đường hoa” của họa sĩ Lâm Hoàng Trúc đã được hai nhà xuất bản tại Pháp và Italy mua bản quyền xuất bản.
Theo họa sĩ Nguyễn Duy Hải, đồng sáng lập PunkgaMe (một nền tảng truyện tranh trực tuyến dành cho các tác giả, họa sĩ và cộng đồng người hâm mộ truyện tranh tại Việt Nam), thì thị trường truyện tranh ở Việt Nam đang rất tiềm năng. Trong khoảng 3- 4 năm trở lại đây, cộng đồng truyện tranh Việt Nam phát triển mạnh mẽ, chỉ riêng số lượng người tham gia PunkgaMe đã là trên 20.000 người, chưa kể còn rất nhiều nền tảng tương tự. Việt Nam cũng không thiếu họa sĩ vẽ truyện tranh tài năng. Mỗi lần PunkgaMe mở cuộc thi truyện tranh đều có khoảng 3.000 đến 4.000 bài thi với khoảng 2.000 thí sinh. Trong đó, số họa sĩ vẽ truyện tranh chuyên nghiệp lên tới hàng trăm và số họa sĩ đẳng cấp quốc tế đủ sức vươn ra toàn cầu khoảng 50 người. Một số họa sĩ còn đang trực tiếp làm việc với những đơn vị lớn ở “cái nôi” của nền công nghiệp truyện tranh Manga Nhật Bản.
Mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng theo họa sĩ Nguyễn Duy Hải, cộng đồng truyện tranh Việt Nam còn ít người biết tới. Lý do là thiếu một hạ tầng sáng tạo hoàn chỉnh cũng như chưa có nhiều hỗ trợ từ Nhà nước. Bởi vậy, có họa sĩ đã từng 4 lần được giải thưởng quốc tế, từng được đối tác truyện tranh Nhật Bản mời hợp tác nhưng họa sĩ này đã từ chối để đi làm công việc khác có thu nhập tốt hơn. “Chúng ta đã lãng phí rất nhiều nguồn lực”, Nguyễn Duy Hải nói.
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Khánh Dương, người sáng lập Comicola (công ty chuyên về lĩnh vực phát hành, sản xuất và quảng bá các sản phẩm văn hóa Việt, riêng mảng truyện tranh, đơn vị chiếm khoảng 85% thị phần trong nước) cũng cho rằng, Việt Nam không thiếu họa sĩ giỏi, không thiếu độc giả, nhưng vẫn thiếu những tác phẩm nội địa đủ sức tạo thành dòng chảy mạnh mẽ trên thị trường. Đằng sau câu chuyện này không chỉ là bài toán sáng tạo, mà còn là “khoảng trống” của cả một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Truyện tranh “13 giờ sáng” của Lương Minh Quang.
Kỹ năng thực chiến - điểm cốt yếu để làm ra sản phẩm sáng tạo
Nhìn ra thế giới, hiện nay nhiều quốc gia đã xây dựng được hệ sinh thái truyện tranh rất mạnh. Ở Nhật Bản, khi một cuốn truyện tranh xuất bản, với IP (hệ thống nhân vật, câu chuyện, hình ảnh sáng tạo, có bản quyền) có sẵn, số lượng bản in ra rất lớn, dẫn tới giá thành hạ thấp. Hệ sinh thái thương mại phía sau truyện tranh như phim ảnh, đồ chơi, sản phẩm phái sinh hoặc các hợp đồng khai thác hình ảnh nhân vật như Đôrêmon khiến chúng không chỉ hiện diện trên trang sách, mà còn tồn tại như một thương hiệu văn hóa đại chúng, có khả năng tạo doanh thu ở nhiều lĩnh vực khác nhau.
Với gần 15 năm đồng hành cùng họa sĩ, sản xuất truyện tranh và các sản phẩm giải trí của tác giả Việt, ông Nguyễn Khánh Dương cho biết mình thường xuyên nhận được những email, inbox, cuộc điện thoại xin lời khuyên tư vấn. Đó có thể là một người trẻ mới ra trường, đam mê và muốn theo đuổi sự nghiệp sáng tác, hoặc email hào hứng từ một giảng viên trong khoa Mỹ thuật ứng dụng của một trường Đại học nổi tiếng rằng, đồ án tốt nghiệp của sinh viên rất tốt, vậy có thể thử nghiên cứu xem có thể đưa sản phẩm đó ra thị trường được không?
“Hàng tuần, chúng tôi nhận được nhiều dự án sáng tạo được đưa lên cổng Comicola Crowdfunding (nền tảng huy động vốn từ cộng đồng lớn nhất Việt Nam). Khi duyệt qua các dự án này, chúng tôi bắt gặp những dự án có chất lượng mỹ thuật và chuyên môn tốt, nhưng do tác giả chưa có kinh nghiệm trong việc sản xuất hàng loạt, sản phẩm đó không khả thi để có thể đưa ra thị trường”, Founder của Comicola nói.

“Mùa hè bất tận” của họa sĩ Lâm Hoàng Trúc. Tác phẩm được xuất bản tại Italy và Pháp.
Theo ông Dương, các sinh viên trong các trường đào tạo mỹ thuật ứng dụng ở Việt Nam có năng lực sáng tạo “cực kỳ tốt”, những bài tập của họ làm ở trường có hàm lượng chất xám rất cao, tuy nhiên họ luôn gặp khó khăn khi ứng dụng vào các sản phẩm sáng tạo. Lý do là việc đưa sản phẩm ra thị trường không chỉ cần kiến thức, mỹ thuật hàn lâm mà còn trải qua rất nhiều khâu khác, trong đó quá trình sản xuất công nghiệp phải tối ưu chi phí để hạ giá thành.
Ông Dương lấy ví dụ trong quá trình đưa nhân vật truyện tranh Mèo Mốc thành đồ chơi, nhóm làm việc đã phải tranh luận rất nhiều bởi họa sĩ không muốn nhân vật của mình đi quá xa khỏi hình ảnh ban đầu. Tuy nhiên, nếu muốn giữ một chi tiết nhỏ của nhân vật thì chi phí có thể đội lên gấp đôi.
“Giữ nguyên hình ảnh nhân vật nhìn thì xinh, hấp dẫn đấy, nhưng chuyển nhân vật sang đồ chơi thì cần tính toán tiết kiệm được bao nhiêu nhựa, tỷ lệ khuôn như thế nào, cần bao nhiêu khuôn, thêm một khuôn là tốn thêm vào đó 300- 400 triệu đồng. Để giữ một chi tiết trên đầu con Mốc có cái khía nhọn thì khi ép nhựa vào khuôn sẽ có tỷ lệ hỏng hóc rất cao, khiến giá thành sản phẩm đội lên vô cùng lớn. Làm ra một sản phẩm sáng tạo cần kiến thức về sản xuất công nghiệp, về tối ưu chi phí. Đây là những kiến thức không ai dạy trong trường”, ông Dương cho hay.

Một số sản phẩm trong hệ sinh thái truyện tranh của Comicola.
Cơ hội khi thị trường minh bạch về sở hữu trí tuệ
Nhận thức được Việt Nam đang nỗ lực để tăng sự nhận diện của truyện tranh trên thị trường thế giới, PunkgaMe phối hợp với Comicola tổ chức một số lớp học nhằm trang bị cho các họa sĩ Việt Nam những kỹ năng “thực chiến”, qua đó giúp họ tự tin hơn khi biến ý tưởng sáng tạo thành những sản phẩm cầm trên tay, có thể sống bằng nghề thay vì chỉ đưa lên mạng như một sản phẩm giải trí cá nhân. “Chúng tôi muốn những sáng tạo rất công phu không chỉ dừng lại ở những bài tập lớn, sau khi chấm điểm thì đóng gói cất đi, thỉnh thoảng đem ra triển lãm và không bao giờ có cơ hội xuất hiện trên kệ hàng. Khi các họa sĩ tự tin đưa sản phẩm của mình ra thị trường thì chúng ta sẽ có thêm sản phẩm sáng tạo của người Việt, sẽ không còn câu chuyện những thương hiệu truyện tranh Việt nằm lép vế giữa bạt ngàn truyện tranh Nhật Bản, Hàn Quốc nữa”, ông Dương nói.

Một số truyện tranh được xuất bản bởi Comicola.
Đáng mừng hơn nữa là gần đây đã xuất hiện nhiều tín hiệu tích cực. Theo ông Dương, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo rất quyết liệt về việc tập trung đấu tranh, ngăn chặn và xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Việc siết chặt bản quyền có thể trở thành cơ hội quan trọng để các sản phẩm nội địa có bản quyền được cạnh tranh công bằng hơn trên thị trường. Kinh nghiệm của ông cho thấy, cũng như cách đây hơn 20 năm, khi Việt Nam gia nhập Công ước Bern, các doanh nghiệp đã có rất nhiều dư địa để phát triển. Với động thái quyết liệt gần đây của Chính phủ, sẽ là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp sáng tạo khi nguồn nội dung bất hợp pháp bị thu hẹp, người đọc sẽ dần hình thành thói quen trả phí và quay lại với các sản phẩm truyện tranh có bản quyền ở trong nước.
Bên cạnh đó, thực tế từ nhiều quốc gia châu Á cho thấy thị trường nội dung nội địa chỉ thực sự phát triển khi có những cơ chế bảo hộ, qua đó tạo “không gian thị trường” cho sản phẩm trong nước. Theo ông Dương, đây không phải câu chuyện ngăn cấm sản phẩm ngoại, mà là tạo điều kiện để sản phẩm nội địa có cơ hội có năng lực cạnh tranh, đặc biệt là trong giai đoạn đầu phát triển.





