Tuyển sinh đại học 2026: Chấm dứt cảnh 'trăm hoa đua nở' phương thức xét tuyển, thí sinh phải tính toán kỹ khi chỉ còn 15 nguyện vọng
Từ năm 2026, tuyển sinh đại học sẽ bước vào giai đoạn điều chỉnh lớn với hàng loạt thay đổi đáng chú ý như giới hạn tối đa 15 nguyện vọng, giảm số phương thức xét tuyển, bắt buộc quy đổi điểm tương đương giữa các phương thức và xác thực ưu tiên bằng cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia.
Theo GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ Giáo dục và Đào tạo), những thay đổi này được xây dựng với mục tiêu hướng tới một hệ thống tuyển sinh công bằng, minh bạch và ổn định hơn trong giai đoạn 2026-2030.
Giới hạn 15 nguyện vọng: Thí sinh phải chọn thực chất hơn
Một trong những điểm thay đổi đáng chú ý nhất là quy định mỗi thí sinh chỉ được đăng ký tối đa 15 nguyện vọng xét tuyển đại học.
Ông Thảo cho biết, qua phân tích dữ liệu tuyển sinh từ năm 2021 đến nay, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) nhận thấy phần lớn thí sinh thực tế chỉ đăng ký khoảng 7-8 nguyện vọng và chủ yếu trúng tuyển ở các nguyện vọng đầu tiên.
Theo ông, việc giới hạn số lượng nguyện vọng không nhằm gây khó cho thí sinh mà để các em tập trung hơn vào những ngành, trường thực sự mong muốn theo học, tránh tình trạng đăng ký dàn trải theo tâm lý “đặt chỗ cho chắc”.

Việc giới hạn số lượng nguyện vọng cũng giúp quá trình lọc ảo, phân tích dữ liệu thuận lợi hơn, đồng thời giúp các trường có thêm cơ sở để đánh giá xu hướng lựa chọn của thí sinh và xây dựng phương án tư vấn phù hợp.
“15 nguyện vọng vẫn là con số khá lớn. Trên thực tế, nhiều em chỉ xác định rõ từ nguyện vọng 1 đến 5, hoặc tối đa đến 7. Việc sắp xếp tới 15 nguyện vọng một cách nghiêm túc không hề đơn giản”, ông Thảo nói.
Bộ GD&ĐT vẫn khuyến khích thí sinh chia nguyện vọng thành các nhóm: nhóm ngành yêu thích nhất, nhóm phù hợp năng lực và nhóm an toàn để dự phòng. Tuy nhiên, việc giới hạn sẽ giúp thí sinh cân nhắc kỹ hơn trước khi đăng ký.
Ở góc độ kỹ thuật, ông Thảo khẳng định việc giới hạn nguyện vọng không phải do hệ thống công nghệ không đáp ứng được, bởi “dù 15 hay 100 nguyện vọng thì hệ thống vẫn xử lý được”. Điều quan trọng là giúp tuyển sinh trở nên hợp lý và hiệu quả hơn.
| Ngày | Buổi | Bài thi/Môn thi | Thời gian làm bài | Giờ phát đề cho thí sinh | Giờ bắt đầu làm bài |
| 10/6 | Sáng | 8h: Họp cán bộ làm công tác coi thi tại điểm thi | |||
| Chiều | 14h: Thí sinh làm thủ tục dự thi tại phòng thi, đính chính sai sót (nếu có) và nghe phổ biến quy chế thi, lịch thi. | ||||
| 11/6 | Sáng | Ngữ văn | 120 phút | 7h30 | 7h35 |
| Chiều | Toán | 90 phút | 14h20 | 14h30 | |
| 12/6 | Sáng | Môn thứ 1 (tự chọn) | 50 phút | 7h30 | 7h35 |
| Môn thứ 2 (tự chọn) | 50 phút | 8h35 | 8h40 | ||
| 13/6 | Dự phòng | ||||
Giảm số phương thức xét tuyển, tăng minh bạch
Một thay đổi quan trọng khác là từ năm 2026, mỗi trường đại học chỉ được sử dụng tối đa 5 phương thức xét tuyển.
Đại diện Bộ GD&ĐT cho hay, thời gian qua, việc các trường sử dụng quá nhiều phương thức xét tuyển khiến thí sinh rơi vào “ma trận” thông tin, khó xác định chiến lược đăng ký phù hợp. Đồng thời, sự chồng chéo giữa các phương thức cũng đặt ra nhiều tranh cãi về tính công bằng.
Vì vậy, cùng với việc giảm số phương thức xét tuyển, các trường bắt buộc phải thực hiện quy đổi điểm tương đương giữa các phương thức khác nhau.
Ông Thảo cho biết, nguyên tắc cốt lõi của quy định này là bảo đảm công bằng giữa các thí sinh, dù xét tuyển bằng học bạ, điểm thi tốt nghiệp THPT, đánh giá năng lực hay chứng chỉ quốc tế.
“Nếu cùng xét tuyển vào một ngành thì các thí sinh phải được đối xử công bằng, bất kể sử dụng phương thức nào”, ông nhấn mạnh.
Theo quy chế mới, các trường không còn được chia chỉ tiêu cứng cho từng phương thức xét tuyển như trước đây mà phải xét chung trên một mặt bằng tương đương.

Một thí sinh có thể lựa chọn nhiều phương thức khác nhau để xét tuyển vào cùng một ngành đào tạo. Tuy nhiên, giữa các thí sinh vẫn phải bảo đảm nguyên tắc công bằng tương đương, dù sử dụng phương thức xét tuyển khác nhau.
Quy đổi điểm không còn “ước lượng cảm tính”
Để xây dựng mức quy đổi, các trường sẽ phải dựa trên dữ liệu tuyển sinh nhiều năm, kết quả học tập thực tế của sinh viên sau khi vào đại học cũng như các phân tích thống kê khoa học.
Ví dụ, với các tổ hợp như A00 hay A01, trường đại học sẽ đối sánh điểm trúng tuyển nhiều năm, đồng thời phân tích kết quả học tập của sinh viên năm nhất, năm hai, năm ba để xác định mức độ tương quan giữa các phương thức.
Bộ GD&ĐT cũng cung cấp dữ liệu phổ điểm, phân vị điểm thi tốt nghiệp THPT cũng như dữ liệu đối sánh giữa các kỳ thi riêng như đánh giá năng lực, đánh giá tư duy với kỳ thi tốt nghiệp THPT để các trường có cơ sở xây dựng mức quy đổi phù hợp.
Riêng với chứng chỉ ngoại ngữ, Thông tư 06 yêu cầu các trường phải xây dựng tối thiểu 5 mức quy đổi khác nhau nhằm tăng độ phân hóa thay vì quy đổi “cào bằng” như trước.
Năm 2025 là năm đầu tiên triển khai quy đổi điểm tương đương nên các trường đã có thêm kinh nghiệm thực tế. Từ năm 2026, việc áp dụng khoa học dữ liệu trong tuyển sinh sẽ tiếp tục được hoàn thiện hơn.
Đồng bộ dữ liệu dân cư để chặn sai sót ưu tiên
Một điểm mới khác là việc xác thực khu vực và đối tượng ưu tiên sẽ được thực hiện thông qua cơ sở dữ liệu dân cư quốc gia.
Theo Bộ GD&ĐT, những năm trước từng xảy ra tình trạng thí sinh khai nhầm khu vực ưu tiên, dẫn đến phải điều chỉnh kết quả sau hậu kiểm.
Khi dữ liệu được đồng bộ, toàn bộ thông tin về nơi cư trú, đối tượng ưu tiên sẽ được xác thực tự động, giúp hạn chế tối đa sai sót và tăng tính minh bạch trong tuyển sinh.
“Dữ liệu quốc gia sẽ giúp xác định chính xác mức ưu tiên 0,25; 0,5 hay 0,75 điểm, đồng thời giảm đáng kể thủ tục hành chính cho cả thí sinh và các trường”, ông Thảo cho biết thêm.
Theo Bộ GD&ĐT, Thông tư 06 được xây dựng trên cơ sở tổng kết toàn diện thực tiễn tuyển sinh giai đoạn 2016-2025, đặc biệt từ năm 2021 đến nay.
Mục tiêu lớn nhất là tháo gỡ những bất cập phát sinh trong thời gian qua để hình thành một quy chế tuyển sinh có tính ổn định lâu dài hơn.
“Với những điều chỉnh hiện nay, Bộ GD&ĐT định hướng tuyển sinh đại học sẽ duy trì ổn định trong giai đoạn 2026-2030, đồng thời kế thừa những kết quả tích cực của giai đoạn trước”, ông Thảo nhấn mạnh.
| Thời gian | Nội dung |
| Trước 17h ngày 15/4 | Lập tài khoản đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT |
| Ngày 17-21/4 | Học sinh lớp 12 thử đăng ký dự thi trên hệ thống quản lý thi |
| Ngày 24/4 đến 17h ngày 5/5 | Thí sinh đăng ký dự thi, đăng ký xét công nhận tốt nghiệp THPT, nhập phiếu đăng ký dự thi, đăng ký xét công nhận tốt nghiệp của thí sinh nộp hồ sơ theo hình thức trực tiếp. |
| Chậm nhất 9/5 | Kiểm tra, chỉnh sửa thông tin sai sót nếu có |
| Chậm nhất 2/6 | Học sinh rà soát, ký xác nhận thông tin, dữ liệu kết quả học tập, rèn luyện |
| Chậm nhất 5/6 | Thông báo những trường hợp thí sinh không đủ điều kiện dự thi |
| Chậm nhất ngày 6/6 | Thí sinh nhận giấy báo dự thi |
| 14h ngày 10/6 | Thí sinh làm thủ tục dự thi tại phòng thi và nghe phổ biến quy chế, lịch thi |
| Ngày 11-12/6 | Thí sinh thi tốt nghiệp THPT |
| Ngày 13/6 | Ngày thi dự phòng |
| Trước 15h ngày 28/6 | Hoàn thành công tác chấm thi |
| 8h ngày 1/7 | Công bố kết quả thi tốt nghiệp THPT |
| Ngày 1-5/7 | Thí sinh nộp đơn phúc khảo |
| Chậm nhất ngày 3/7 | Xét công nhận tốt nghiệp THPT |
| Chậm nhất ngày 7/7 | Thí sinh nhận giấy chứng nhận kết quả thi, học bạ và các loại giấy chứng nhận liên quan (bản chính) |
| Chậm nhất ngày 23/7 | Xét công nhận tốt nghiệp THPT sau phúc khảo |





