A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tuổi 35 trở thành mốc khuyến nghị sinh đủ 2 con

Mốc 35 tuổi không phải “hạn cuối” để phụ nữ sinh con, càng không phải quy định buộc mỗi gia đình phải sinh hai con trước độ tuổi này. Theo chuyên gia, đây là thông điệp vận động nhằm giúp các cặp vợ chồng chủ động kế hoạch sinh sản trong bối cảnh mức sinh thấp và tuổi kết hôn, sinh con có xu hướng muộn hơn.

35 tuổi không phải “cánh cửa đóng lại”

Thời gian qua, thông điệp “sinh đủ 2 con trước 35 tuổi” được Bộ Y tế đưa vào hoạt động truyền thông, vận động, giáo dục về dân số. Tuy nhiên, không ít người đặt câu hỏi: Vì sao lại là 35 tuổi, mà không phải 30, 32 hay 40 tuổi?

Theo bác sĩ Mai Xuân Phương, nguyên Phó Vụ trưởng Vụ Truyền thông và Giáo dục, Tổng cục Dân số, Bộ Y tế, cần hiểu đúng ý nghĩa của con số 35.

794096094-1389745209971803-3716925588949200667-n-3988.jpg

Theo bác sĩ Phương, nếu một người kết hôn muộn, sinh con đầu lòng muộn rồi tiếp tục trì hoãn việc sinh con thứ hai, khoảng thời gian để thực hiện mong muốn có hai con sẽ ngày càng ngắn. Ảnh: Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Ông cho rằng, đây là một khuyến nghị về thời điểm chủ động kế hoạch sinh sản, không phải mệnh lệnh hành chính hay “hạn chót” đối với phụ nữ.

Về y học, khi tuổi tăng, khả năng sinh sản của phụ nữ có xu hướng giảm, chất lượng noãn thay đổi và nguy cơ gặp một số vấn đề trong thai kỳ, sinh nở cũng tăng lên. Vì vậy, việc chủ động sinh con khi sức khỏe sinh sản còn thuận lợi có thể giúp tăng cơ hội mang thai và sinh con an toàn.

Tuy nhiên, phụ nữ sau 35 tuổi vẫn có thể mang thai và sinh con khỏe mạnh. Điều quan trọng là cần chủ động hơn trong việc lập kế hoạch sinh sản, chăm sóc sức khỏe và theo dõi thai kỳ.

“35 tuổi không phải cánh cửa đóng lại, nhưng càng trì hoãn thì dư địa để thực hiện kế hoạch sinh hai con càng hẹp lại”, bác sĩ Phương nói.

Từ đó có thể xuất hiện nghịch lý: Mong muốn có hai con nhưng cuối cùng chỉ có một con, thậm chí không có con, do kế hoạch sinh sản bị đẩy lùi quá lâu.

Không thể vận động sinh con bằng khẩu hiệu

Ở góc độ dân số, mức sinh thấp kéo dài có thể tác động đến quy mô và cơ cấu dân số, nguồn nhân lực và làm quá trình già hóa dân số diễn ra nhanh hơn.

Nhưng theo bác sĩ Phương, mục tiêu nâng mức sinh phải được đặt song song với quyền tự quyết về sinh sản của mỗi cá nhân, mỗi gia đình.

Luật Dân số 2025, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, quy định cá nhân, cặp vợ chồng quyết định thời gian sinh con, số con và khoảng cách giữa các lần sinh phù hợp với tuổi, sức khỏe, điều kiện học tập, lao động, thu nhập và khả năng nuôi dạy con trên cơ sở bình đẳng.

“Nhà nước không nên quyết định thay người dân phải sinh bao nhiêu con, vào thời điểm nào. Nhà nước cần tạo điều kiện để người dân có thể thực hiện mong muốn sinh con của chính mình”, ông Phương cho biết thêm.

Theo chuyên gia, đây là điểm mấu chốt: Vận động sinh con khác với tạo điều kiện để người dân muốn sinh con có thể sinh và nuôi con tốt.

Một số chính sách mới đã được đưa vào Luật Dân số theo hướng hỗ trợ gia đình. Từ ngày 1/7/2026, lao động nữ sinh con thứ hai được nghỉ thai sản 7 tháng; lao động nam được nghỉ 10 ngày làm việc khi vợ sinh con.

Luật cũng quy định các chính sách hỗ trợ tài chính khi sinh con và ưu tiên về nhà ở xã hội đối với người có từ hai con đẻ trở lên.

Muốn tăng sinh, trước hết phải giảm nỗi lo nuôi con

Theo bác sĩ Phương, để thông điệp “sinh đủ 2 con trước 35 tuổi” thực sự đi vào đời sống, không thể chỉ trông chờ vào truyền thông hay các khoản hỗ trợ bằng tiền.

Vấn đề lớn hơn nằm ở những câu hỏi mà các cặp vợ chồng trẻ phải cân nhắc trước khi quyết định sinh thêm con: Có nhà ở hay không? Ai trông con? Chi phí nuôi con thế nào? Người mẹ có thể quay lại công việc? Người cha có chia sẻ việc chăm con? Khi con ốm, gia đình có đủ thời gian và nguồn lực để xoay xở?

“Với một cặp vợ chồng trẻ, quyết định sinh con không chỉ được tính bằng một khoản tiền hỗ trợ, mà còn bằng câu hỏi: nếu có thêm một đứa con, chúng tôi có nuôi được con tốt không và cuộc sống gia đình có bị đảo lộn quá lớn không?”, ông Phương nói.

Từ thực tế này, chuyên gia đề xuất chính sách dân số cần tập trung vào 6 nhóm vấn đề gồm nhà ở, nhà trẻ, việc làm, thời gian, chi phí và y tế sinh sản.

769222205-1557969892485908-266591632913010207-n-9095.jpg

Trước hết là chăm sóc sức khỏe sinh sản, tư vấn trước hôn nhân, dự phòng vô sinh, sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Người trẻ cần được trang bị kiến thức để hiểu rõ khả năng sinh sản, từ đó chủ động xây dựng kế hoạch phù hợp với hoàn cảnh của mình. Ảnh: Bệnh viện Phụ sản Trung ương

Tiếp đó là nhà ở xã hội, nhà trẻ, trường mầm non và dịch vụ chăm sóc trẻ với chi phí phù hợp, nhất là tại các đô thị lớn và khu công nghiệp, nơi nhiều gia đình trẻ đang sinh sống và làm việc.

Cùng với đó là việc làm và thu nhập ổn định, thời gian nghỉ thai sản phù hợp, giờ làm linh hoạt và môi trường làm việc thân thiện với người có con nhỏ.

Một yếu tố khác được chuyên gia nhấn mạnh là chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con trong gia đình.

“Đừng chỉ vận động người phụ nữ sinh con. Hãy vận động cả người đàn ông cùng sinh, cùng nuôi, cùng chia sẻ trách nhiệm”, bác sĩ Phương nhấn mạnh.

Khi người trẻ có việc làm ổn định, chỗ ở phù hợp, nhà trẻ tốt, thời gian chăm con, dịch vụ y tế bảo đảm và người cha cùng tham gia chăm sóc con, mong muốn sinh con mới có điều kiện chuyển thành quyết định thực tế.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết