Theo dõi cả người nghi mắc bệnh truyền nhiễm để phát hiện sớm dịch
Bộ Y tế đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng bệnh, trong đó đề xuất nhiều quy định mới liên quan đến công tác giám sát bệnh truyền nhiễm.
Theo dự thảo, đối tượng giám sát bệnh truyền nhiễm không chỉ bao gồm người mắc bệnh mà còn mở rộng tới người mang mầm bệnh, người nghi ngờ mắc bệnh, người có tiếp xúc với nguồn lây và cả trường hợp tử vong nghi do bệnh truyền nhiễm.
Bộ Y tế nhấn mạnh, việc thông tin, báo cáo và khai báo bệnh truyền nhiễm phải bảo đảm chính xác, đầy đủ, đúng trình tự và thẩm quyền theo quy định.
Trường hợp đã thực hiện báo cáo trực tuyến thì không phải gửi báo cáo bằng văn bản, đơn vị thực hiện báo cáo chịu trách nhiệm về tính chính xác của dữ liệu.

Nội dung giám sát đối với người mắc bệnh truyền nhiễm, người mang mầm bệnh truyền nhiễm, người bị nghi ngờ mắc bệnh truyền nhiễm, người tiếp xúc và người tử vong nghi ngờ do bệnh truyền nhiễm:
Giám sát toàn diện từ con người đến môi trường
Dự thảo quy định hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm sẽ theo dõi nhiều nhóm đối tượng và yếu tố nguy cơ khác nhau.
Đối với con người, thông tin giám sát bao gồm dữ liệu hành chính như họ tên, số định danh cá nhân hoặc hộ chiếu, tuổi, giới tính, địa chỉ cư trú, nơi học tập, làm việc và phương thức liên hệ. Ngoài ra còn có các thông tin dịch tễ và lâm sàng như thời điểm khởi phát bệnh, triệu chứng, diễn biến bệnh, tình trạng hiện tại, quá trình điều trị.
Hệ thống giám sát cũng ghi nhận kết quả xét nghiệm tác nhân gây bệnh, các biến chủng hoặc kiểu gen (nếu có), đồng thời thu thập thông tin về tiền sử tiêm chủng, tình trạng miễn dịch, lịch sử đi lại, tiền sử phơi nhiễm hoặc tiếp xúc với nguồn lây trong thời gian ủ bệnh.
Không chỉ dừng ở con người, dự thảo còn quy định giám sát các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm, bao gồm chủng, loài, nhóm, týp, phân týp, đặc tính sinh học, độc lực, khả năng kháng thuốc và phương thức lây truyền.
Bên cạnh đó, hệ thống giám sát sẽ theo dõi các ổ chứa mầm bệnh và các yếu tố nguy cơ như động vật, côn trùng truyền bệnh, môi trường (đất, nước, không khí, chất thải), thực phẩm cũng như các yếu tố liên quan đến cộng đồng như điều kiện kinh tế, văn hóa, tập quán sinh hoạt, điều kiện vệ sinh, khí hậu và di biến động dân cư.
Ba loại hình giám sát dịch bệnh
Dự thảo Thông tư cũng đề xuất ba loại hình giám sát bệnh truyền nhiễm.
Thứ nhất là giám sát dựa vào chỉ số, tức thu thập thông tin về các bệnh truyền nhiễm cụ thể theo biểu mẫu và các chỉ số quy định, bao gồm giám sát thường xuyên và giám sát trọng điểm.
Thứ hai là giám sát dựa vào sự kiện, thu thập và xác minh các dấu hiệu cảnh báo từ nhiều nguồn như cộng đồng, mạng xã hội, hệ thống truyền thông, cơ quan, tổ chức và mạng lưới y tế.
Thứ ba là giám sát dựa vào hội chứng, tức theo dõi và phân tích các biểu hiện lâm sàng hoặc triệu chứng bệnh để phát hiện sớm nguy cơ bùng phát dịch trước khi có chẩn đoán xác định.

Giám sát dựa vào chỉ số là việc thu thập thông tin về các bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm cụ thể theo các chỉ số, biểu mẫu quy định.
Xây dựng hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm toàn quốc
Theo dự thảo, hệ thống quản lý giám sát bệnh truyền nhiễm sẽ được sử dụng để các đơn vị y tế báo cáo trực tuyến, đồng thời phục vụ cảnh báo và quản lý tình hình dịch bệnh trên phạm vi cả nước.
Hệ thống này sẽ ghi nhận thông tin về đối tượng giám sát, kết quả xét nghiệm và các dữ liệu thu thập từ các loại hình giám sát, thông qua việc báo cáo trực tuyến hoặc kết nối, liên thông dữ liệu giữa các phần mềm của cơ sở y tế theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Cục Phòng bệnh sẽ là đơn vị chủ trì triển khai hệ thống.
Theo dự thảo, giám sát bệnh truyền nhiễm được hiểu là quá trình thu thập, phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin một cách liên tục, có hệ thống về tình hình dịch bệnh và các yếu tố nguy cơ nhằm phục vụ công tác phòng bệnh.

Giám sát bệnh truyền nhiễm là việc thu thập, phân tích, đánh giá, diễn giải và sử dụng thông tin một cách liên tục có hệ thống về tình hình, yếu tố nguy cơ gây bệnh, dịch bệnh truyền nhiễm để phòng bệnh.
Dự thảo cũng làm rõ khái niệm ổ dịch. Theo đó, ổ dịch tại cộng đồng được xác định khi tại một khu vực như thôn, tổ dân phố xuất hiện trường hợp bệnh xác định hoặc các ca bệnh lâm sàng kèm tác nhân gây bệnh, trung gian truyền bệnh trong khoảng thời gian tương đương thời gian ủ bệnh trung bình. Với cơ sở khám chữa bệnh, ổ dịch được xác định khi có trường hợp lây nhiễm trong thời gian tương đương thời gian ủ bệnh trung bình của bệnh đó.





