Pháp luật quy định như thế nào về việc phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên?
* Bạn đọc Phạm Thanh Long ở xã Pu Sam Cáp, tỉnh Lai Châu, hỏi: Pháp luật quy định như thế nào về việc phát thẻ và quản lý, sử dụng thẻ đảng viên?
Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại Điều 6.1 Quy định số 294-QĐ/TW ngày 26-5-2025 của Ban Chấp hành Trung ương về thi hành Điều lệ Đảng. Cụ thể như sau:
- Thẻ đảng viên được phát cho đảng viên chính thức, chi bộ tổ chức phát thẻ cho đảng viên trong kỳ sinh hoạt chi bộ gần nhất, sau khi có quyết định của cấp có thẩm quyền.
- Đảng viên được nhận thẻ đảng viên phải thực hiện đúng những quy định về sử dụng và bảo quản thẻ, khi mất hoặc làm hỏng thẻ phải báo cáo ngay với cấp ủy để xét cấp lại hoặc đổi thẻ đảng viên.
|
| Ảnh minh họa: luatvietnam.vn |
- Cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xem xét, ra quyết định phát thẻ đảng viên và quản lý sổ phát thẻ đảng viên.
- Các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương chỉ đạo và kiểm tra việc phát thẻ đảng viên.
- Ban Tổ chức Trung ương giúp Trung ương hướng dẫn, kiểm tra việc phát, quản lý thẻ đảng viên trong toàn Đảng.
- Sử dụng thẻ đảng viên: Đảng viên sử dụng thẻ đảng viên để biểu quyết trong sinh hoạt đảng, trong đại hội đảng các cấp (trừ các trường hợp biểu quyết bằng phiếu kín).
* Bạn đọc Trần Thùy Chi ở xã Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi, hỏi: Xóa án tích đối với người chưa thành niên được pháp luật quy định như thế nào?
Trả lời: Nội dung bạn hỏi được quy định tại Điều 127 Luật Tư pháp người chưa thành niên. Cụ thể như sau:
1. Người chưa thành niên bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi;
b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý.
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt hoặc hết thời gian thử thách án treo hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời hạn sau đây:
a) 3 tháng trong trường hợp bị phạt cảnh cáo, phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù nhưng được hưởng án treo;
b) 6 tháng trong trường hợp bị phạt tù đến 5 năm;
c) 1 năm trong trường hợp bị phạt tù từ trên 5 năm đến 15 năm;
d) 2 năm trong trường hợp bị phạt tù trên 15 năm.






