• :
  • :
Trang thông tin điện tử tổng hợp
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Miễn thuế suất ăn trường học, bệnh viện: Làm sao để lợi ích thực sự đến với học sinh, người bệnh?

Chính sách miễn thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn cho trường học, cơ sở khám chữa bệnh được đánh giá là chủ trương nhân văn. Tuy nhiên, các đại biểu Quốc hội cho rằng cần tháo gỡ vướng mắc trong thực hiện và có cơ chế đánh giá để bảo đảm ưu đãi thuế mang lại lợi ích thực chất cho người thụ hưởng.

Sáng 6/11, thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và Luật Thuế thu nhập cá nhân, nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm đến chính sách miễn thuế đối với hoạt động cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục và cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Đây là chính sách có ý nghĩa thiết thực trong chăm lo dinh dưỡng cho học sinh, người bệnh. Tuy nhiên, để chính sách thực sự đi vào cuộc sống, các đại biểu cho rằng cần giải quyết những bất cập về cách xác định phần thu nhập được miễn thuế, thủ tục thực hiện cũng như cơ chế kiểm chứng hiệu quả ưu đãi.

Tránh để thủ tục miễn thuế trở thành gánh nặng

Đại biểu Tô Ái Vang (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) chỉ ra bất cập trong quy định miễn thuế đối với doanh nghiệp nộp thuế theo tỷ lệ phần trăm trên doanh thu. Theo đại biểu, dự thảo quy định miễn thuế trên phần thu nhập từ cung cấp suất ăn, trong khi nhóm doanh nghiệp này không bóc tách được chi phí hợp lý để xác định lợi nhuận.

86.jpg

Đại biểu Tô Ái Vang phát biểu (ảnh QH).

Đại biểu đặt vấn đề: “Vậy thì cơ quan thuế sẽ căn cứ vào đâu để xác định phần thu nhập được miễn?”. Từ đó, bà kiến nghị tính miễn thuế trên phần doanh thu hoặc doanh thu quy đổi từ hoạt động cung cấp suất ăn cho cơ sở giáo dục, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh.

Đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh, đại biểu Tô Ái Vang cho rằng chi phí thời gian và chi phí tuân thủ thủ tục xin miễn thuế đôi khi còn cao hơn số thuế được miễn. Điều này có thể khiến các hộ kinh doanh nản lòng, trong khi giá suất ăn cho học sinh, bệnh nhân chưa chắc được giảm.

Đại biểu kiến nghị thực hiện miễn thuế bằng hình thức giảm trừ trực tiếp vào mức khoán doanh thu định kỳ, căn cứ hợp đồng cung cấp suất ăn hợp pháp.

89.jpg

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành phiên họp (ảnh QH).

Cùng quan tâm đến tính khả thi của chính sách, đại biểu Lê Thị Thanh Xuân (Đoàn ĐBQH tỉnh Đắk Lắk) phản ánh thực tế nhiều trường học phải mua thực phẩm trực tiếp từ các hộ sản xuất, cá nhân kinh doanh nhỏ lẻ, khiến việc lập hóa đơn, chứng từ và xác minh nguồn gốc gặp khó khăn. Nguồn cung, chi phí vận chuyển tại vùng biên giới, vùng xa cũng chưa ổn định.

Bên cạnh đó, nhiều trường tiểu học, mầm non còn thiếu nhân viên nấu ăn, bếp ăn, nhà ăn, kho bảo quản và trang thiết bị chế biến.

Đại biểu đề nghị có hướng dẫn thống nhất về hồ sơ, hóa đơn, chứng từ khi nhà trường mua thực phẩm từ nông dân, hộ kinh doanh nhỏ lẻ; làm rõ trường hợp phải lập hóa đơn và trường hợp được sử dụng bảng kê. Đồng thời, cần làm rõ nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng, bởi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc thuế thu nhập cá nhân không đồng nghĩa với miễn thuế giá trị gia tăng.

Theo đại biểu, chính sách thuế cũng cần được triển khai đồng bộ với việc bố trí nhân viên nấu ăn và đầu tư hạ tầng bếp ăn trường học.

Ưu đãi thuế phải được kiểm chứng bằng lợi ích thực tế

Ở góc độ đánh giá hiệu quả chính sách, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) nhất trí với quan điểm miễn thuế là giải pháp hỗ trợ từ phía cung, khuyến khích nhà cung cấp đầu tư, nâng cao năng lực, tăng cạnh tranh, qua đó tạo điều kiện giảm giá và cải thiện chất lượng bữa ăn.

88.jpg

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga phát biểu (ảnh QH).

Đại biểu nhấn mạnh không nên yêu cầu toàn bộ số thuế được miễn phải chuyển ngay thành giảm giá từng suất ăn. Nguồn lực giữ lại có thể được sử dụng để đầu tư thiết bị, đào tạo nhân lực, cải thiện điều kiện chế biến và những kết quả này cần thời gian để thể hiện.

Tuy nhiên, chính vì tác động của chính sách có thể gián tiếp và xuất hiện sau một thời gian nên trách nhiệm theo dõi, đánh giá càng cần được cụ thể hóa.

Theo đại biểu, số thuế được miễn và số đơn vị thụ hưởng mới chỉ phản ánh quy mô hỗ trợ, chưa đủ để kết luận chính sách đạt hiệu quả. Cần xác định nguồn lực từ ưu đãi đã góp phần cải thiện chất lượng, điều kiện cung ứng hoặc mang lại lợi ích gì cho người sử dụng.

Đại biểu đề nghị xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm, tiến độ ban hành hướng dẫn và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan tài chính, giáo dục, y tế. Việc giám sát chất lượng bữa ăn cần thực hiện thông qua cơ chế quản lý chuyên ngành, hợp đồng và dữ liệu sẵn có; không nên đặt thêm thủ tục xác nhận nhà cung cấp đã giảm giá hoặc tăng khẩu phần mới được miễn thuế, cũng không giao cơ quan thuế đánh giá chất lượng từng bữa ăn.

Đáng chú ý, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga đề nghị Chính phủ báo cáo Quốc hội trong thời hạn ba năm kể từ khi chính sách được áp dụng. Việc đánh giá cần xem xét đầu tư của nhà cung cấp, giá cả, chất lượng, an toàn thực phẩm và khả năng tiếp cận của người học, người bệnh tại các địa bàn khác nhau.

Đại biểu lưu ý, đây là thời hạn kiểm chứng hiệu quả chính sách, không phải thời hạn chấm dứt ưu đãi. Kết quả đánh giá sẽ là căn cứ để Quốc hội xem xét việc tiếp tục hoặc điều chỉnh chính sách.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết