Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức: Làm chủ ghép tạng, nâng tầm vị thế y học Việt Nam
Từ những quyết định đầy tính nhân văn của gia đình người hiến tạng, đến những bước đột phá chuyên môn mang tầm thế giới, câu chuyện ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức không chỉ là thành tựu y học, mà còn là hành trình của lòng nhân ái, bản lĩnh và khát vọng làm chủ kỹ thuật để cứu người. Trao đổi với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, PGS, TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức nhấn mạnh, quá trình làm chủ và cải tiến kỹ thuật để rút ngắn thời gian ghép tạng, đến nguyên tắc công bằng trong phân bổ nguồn tạng, đó là sự kết tinh của chuyên môn, đạo đức và trách nhiệm xã hội.
Nơi hồi sinh sự sống
Phóng viên (PV): Thưa ông, ghép tạng vốn là một kỹ thuật chuyên môn sâu. Ông từng chia sẻ những khoảnh khắc “rất nổi” về mặt hình ảnh và cảm xúc. Xin ông chia sẻ rõ hơn về những khoảng khắc cảm xúc đó?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Ghép gan, ghép tim… về bản chất là chuyên môn thuần túy. Trong phòng mổ, đó là kỹ thuật sâu, phức tạp, kéo dài nhiều giờ. Nhưng những gì diễn ra trong phòng mổ thì rất ít khi tạo ra được “khoảnh khắc” lay động công chúng. Cái lay động nhất lại nằm ở thời điểm trước đó.
Ví dụ, một nam thanh niên 20 tuổi bị tai nạn, chết não. Sau thời gian hồi sức tích cực nhưng không thể cứu được, bác sĩ phải thông báo với gia đình và vận động hiến tạng. Trong bối cảnh tang thương, đau đớn như vậy, việc thuyết phục gia đình đồng ý hiến tạng là vô cùng khó khăn. Khi gia đình đã đồng ý, đến thời khắc đưa người con vào phòng mổ để lấy tạng - đó là khoảnh khắc đặc biệt nhất.
Có những bà mẹ cúi xuống hôn trán con lần cuối ngay trước cửa phòng mổ. Từ giây phút ấy, người nhà không được vào nữa. Cánh cửa đóng lại. Khoảnh khắc đó, nếu chớp được bằng hình ảnh, là khoảnh khắc giá trị nhất. Bởi vì nó là thật, hoàn toàn “live”, không thể dàn dựng. Người làm báo không thể bảo: “Bác ơi, hôn lại lần nữa để chụp hình”. Không thể sắp đặt được.
Người chụp phải dự đoán tình huống, chọn vị trí đứng, chọn góc máy, ước lượng chiếc giường sẽ dừng ở đâu. Chỉ có một cơ hội. Không ai được tự do ra vào khu vực ấy. Không phải ai cũng được phép ghi lại những khoảnh khắc đó. Sau đó, câu chuyện tiếp nối bằng hình ảnh người được ghép tạng hồi sinh, mỉm cười. Một bên là mất mát, một bên là sự sống được nối dài. Chuỗi hình ảnh ấy tạo nên sức mạnh nhân văn rất lớn.
|
PGS, TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ảnh: PHƯƠNG HỒNG |
Vận động hiến tạng: Công việc của niềm tin và sự kiên trì
PV: Trước khi Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức có những bước phát triển đột phá, bức tranh chung về ghép tạng như thế nào, thưa ông?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Trước hết phải hiểu bản chất của ghép tạng là gì? Ghép tạng là thay thế một cơ quan đã mất chức năng bằng một cơ quan khác khỏe mạnh.
Ví dụ: Tim không còn khả năng hoạt động, muốn bệnh nhân sống thì phải thay tim. Đó là ghép tim, tương tự với gan, thận... Trong cơ thể có những cơ quan “tạng kép” là có hai cái như hai quả thận, thì người cho sống có thể hiến một phần. Ví dụ, bố mẹ hiến thận cho con, anh chị em ruột hiến cho nhau. Còn với những cơ quan chỉ có một như tim, gan toàn bộ... thì nguồn hiến chủ yếu là từ người chết não. Người chết não là người não đã ngừng hoạt động hoàn toàn, nhưng các cơ quan khác vẫn còn duy trì được nhờ hồi sức. Nếu không lấy tạng, thì các cơ quan đó cũng sẽ mất đi.
Vấn đề khó nhất nằm việc vận động gia đình người chết não đồng ý hiến tạng trong lúc tang gia bối rối là điều cực kỳ khó. Không vận động khéo còn bị phản ứng gay gắt. Trước đây, số ca hiến tạng chết não rất ít. Có thời điểm, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức chỉ có vài ca trong nhiều năm. Nhưng 3 năm trở lại đây đã có sự thay đổi rõ rệt, đó là bước đột phá.
PV: Được biết trước đây, số ca hiến tạng rất ít, nhưng gần đây số ca hiến tạng đã tăng lên nhiều. Ông có thể cho biết, Bệnh viện đã có những biện pháp gì để tăng lượng tạng hiến?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Sự phát triển nguồn tạng hiến không phải công của một cá nhân, mà đó là quá trình lao động rất vất vả của cả tập thể. Trong đó, truyền thông đóng vai trò rất lớn.
Trước đây, chúng ta quen nghĩ truyền thông là báo giấy, truyền hình. Nhưng thực tế, nhiều người dân, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, không đọc báo, không xem truyền hình thường xuyên. Họ tiếp cận thông tin qua các nền tảng mạng xã hội. Đó là kênh truyền tải thông tin cực kỳ hiệu quả.
Khi một người bệnh được ghép tạng chia sẻ câu chuyện của chính họ, bằng cảm xúc thật, bằng trải nghiệm thật, thì sức lan tỏa rất mạnh. Đó là truyền thông từ tâm và gây hiệu ứng rất mạnh. Chúng tôi nhận ra rằng, không thể chỉ dựa vào cách làm truyền thông cũ. Phải thay đổi cách tiếp cận, sử dụng đa nền tảng. Chính nhờ sự thay đổi nhận thức dần dần của xã hội, nhờ “mưa lâu thấm dần”, mà số lượng gia đình người chết não đồng ý hiến tạng đã tăng lên.
Ví dụ, trong năm 2024, nhóm vận động đã tiếp cận khoảng 740 trường hợp, phải gặp gỡ nhiều lần, có trường hợp 4-8 lần thì mới nhận được sự đồng ý hiến tạng của 26 gia đình. Nhưng cuối cùng, chỉ có 20 người có thể đáp ứng được các điều kiện hiến tạng. Để có được thành quả đó, nhóm vận động người hiến tạng hoàn toàn làm việc bằng tâm, không một ai trong nhóm được trả thêm tiền.
Quan trọng hơn cả là không một mệnh lệnh hành chính nào có thể buộc người ta làm việc này, nếu họ không tin vào giá trị của nó. Rồi cả những bữa ăn vội vàng của các bác sĩ sau những ca ghép kéo dài 10 - 15 - 20 giờ. Họ làm việc không phải vì tiền, mà vì trách nhiệm và vì niềm tin vào sự sống của người bệnh. Có những bức ảnh bác sĩ sau nhiều giờ phẫu thuật vẫn ngồi lặng lẽ, kiệt sức. Những điều đó không phải ai cũng thấy.
|
| Một ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức. Ảnh: PHƯƠNG HỒNG |
Từ “đi học” đến “chia sẻ kinh nghiệm”: Bước chuyển vị thế của ghép tạng Việt Nam
PV: Ông có thể cho biết, về mặt chuyên môn, kỹ thuật ghép tạng hiện nay có gì khác biệt so với trước?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Việt Nam không phải nước đầu tiên làm ghép tạng. Ban đầu, chúng tôi học quy trình chuyên môn từ nước ngoài, áp dụng nguyên bản. Giai đoạn sau là giai đoạn quan trọng: Điều chỉnh kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện Việt Nam. Đây là điểm mạnh của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.
Nhờ số lượng ca bệnh lớn, chúng tôi có điều kiện thực hành nhiều, tích lũy kinh nghiệm, từ đó cải tiến kỹ thuật. Trước đây, một ca ghép có thể kéo dài 12-15 giờ, nay có thể rút xuống khoảng 6 giờ. Những thay đổi trong kỹ thuật ghép tạng của Bệnh viện đã khiến những ca ghép tạng không còn là điều gì đó “kinh khủng” với nhân viên y tế, mà còn giúp giảm nguy cơ cho bệnh nhân, hồi phục nhanh hơn, giảm chi phí ghép - điều trị và cứu được nhiều người hơn.
Tôi đã gặp một bác sĩ người Đài Loan (Trung Quốc), đơn vị đã hỗ trợ thực hiện ca ghép gan đầu tiên tại Việt Nam, và chia sẻ rằng, hiện các bác sĩ của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ghép tạng trong thời gian ngắn hơn trước rất nhiều và hiệu quả. Đối tác rất ngạc nhiên, bởi tại Đài Loan, một ca ghép gan vẫn thực hiện 12 đến 14 giờ.
Tôi trả lời rằng, chúng tôi thay đổi kỹ thuật ghép, nên mỗi ca ghép chỉ còn khoảng 6 giờ. Bác sĩ Đài Loan rất ngỡ ngàng và có ngỏ ý được sang học kinh nghiệm của Việt Đức. Thay đổi đó của Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức đã làm đổi ngôi, từ vị trí người đi học sang vị trí người đi dạy. Có những hội nghị quốc tế, trước đây chúng ta đi học, nhưng bây giờ chúng ta đã vững vàng chia sẻ lại kinh nghiệm của mình và được các chuyên gia đầu ngành đánh giá rất cao. Vị thế của chúng ta đã thay đổi. Đó là điều đáng tự hào.
PV: Thưa ông, lần đầu tiên các bác sĩ của Bệnh viện thực hiện một kỹ thuật ghép đa tạng ở tầm thế giới và làm thành công, cảm xúc của ông khi đó như thế nào?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Tháng 9-2025, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức thực hiện kỹ thuật ghép đồng thời tim - phổi, là kỹ thuật khó bậc nhất của y học hiện đại, trên thế giới có chưa đến 10 nước thực hiện được, với tổng số lượng chỉ khoảng 100 ca/năm.
Đó là lần đầu tiên chúng tôi làm được một kỹ thuật ở tầm thế giới và làm thành công. Nhưng nói thật, thành công không chỉ nằm ở danh tiếng hay ở việc “làm cho bằng thế giới”. Giá trị lớn nhất là mình giải được một bài toán mà thế giới đang quan tâm. Bài báo khoa học về thành tựu đó khi được đăng tải, chỉ khoảng 30 giờ sau, người thầy của tôi ở nước ngoài đã đọc được và gửi email chúc mừng. Điều đó cho thấy chuyên môn của mình thực sự có giá trị.
Thực ra thành tích đó giống như một sự đột phá. Nhưng đột phá đó không phải để làm đẹp hồ sơ, mà vì nhu cầu xã hội đòi hỏi phải phát triển kỹ thuật này. Thế giới làm rồi, tại sao mình không làm? Thậm chí nếu mình làm tốt, có khi còn đóng góp được nhiều hơn. Nguồn tạng hiến có, nhu cầu cứu người rất lớn. Vấn đề là phải triển khai được mô hình, làm chủ kỹ thuật để cứu người bệnh.
Trình độ bác sĩ Việt Nam hoàn toàn có thể làm được. Họ được đào tạo, được tham gia các hội nghị quốc tế, được học hỏi. Trang thiết bị bây giờ cũng đã được đầu tư tốt hơn trước. Khi hội tụ đủ yếu tố chuyên môn, cơ sở vật chất và quyết tâm thì sự phát triển là tất yếu. Kinh tế của chúng ta còn hạn chế, đất nước còn khó khăn. Nhưng nếu bác sĩ không có gì để làm, không có điều kiện để triển khai, thì cũng không thể phát triển được. Phải hội tụ rất nhiều yếu tố: Yếu tố chuyên môn, yếu tố khách quan, yếu tố chủ quan... thì mới làm được.
PV: Ông có nhắc đến vị thế của Việt Nam hiện nay. Theo ông, y tế đóng vai trò như thế nào trong sự phát triển và phồn vinh của một quốc gia?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Khi đánh giá sự phát triển của một quốc gia, người ta không chỉ nhìn vào tăng trưởng kinh tế hay tiền bạc. Có rất nhiều chỉ số an sinh xã hội như: Mức độ bao phủ bảo hiểm y tế, khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe, tỷ lệ tử vong trẻ em, hệ thống tiêm chủng...
Tại Việt Nam, hệ thống y tế cơ bản vẫn được đánh giá cao. Chúng ta có chương trình tiêm chủng mở rộng, giảm đáng kể tỷ lệ tử vong ở trẻ em. Có những nước rất giàu, rất phát triển, nhưng chưa chắc hệ thống y tế cơ sở đã tốt bằng Việt Nam. Tổ chức Y tế Thế giới từng đánh giá y tế Việt Nam ở mức tốt trong tương quan với điều kiện kinh tế. Điều đó rất đáng ghi nhận.
Bên cạnh đó, sự quan tâm, động viên và hỗ trợ của lãnh đạo Bộ Y tế là rất quan trọng. Có những việc rất nhạy cảm, nhưng nếu có sự đồng thuận và ủng hộ, thì đội ngũ y tế sẽ yên tâm làm việc. Ví dụ như một cháu bé ghép tim gần đây. Sau mổ, cháu ổn định và lãnh đạo Bộ Y tế biết thông tin, nên đã động viên kịp thời với bệnh nhân và các nhân viên y tế. Những hành động như vậy, với đội ngũ y tế chúng tôi, đó không phải là hình thức.
|
| PGS, TS Dương Đức Hùng, Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong một ca ghép tạng. Ảnh: PHƯƠNG HỒNG |
Ba yếu tố của người thầy thuốc: Trái tim nóng - cái đầu lạnh - đôi tay chính xác
PV: Theo ông, một bác sĩ giỏi cần những yếu tố nào?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Thực ra, nghề y muốn làm tốt, phải có ba điều: Một trái tim nóng, một cái đầu lạnh và đôi tay mềm mại, chính xác để biến những ý tưởng thành hiện thực.
Trái tim nóng để biết đau cùng nỗi đau của bệnh nhân. Nhưng cái đầu phải lạnh để đủ tỉnh táo xử lý tình huống. Khi bệnh nhân nguy kịch, từng giây đều quý giá. Họ không cần những lời động viên sáo rỗng như “cố lên nhé”.
Điều họ cần là quyết định chuyên môn chính xác, thao tác nhanh và chuẩn. "Lạnh" ở đây không phải là vô cảm. "Lạnh" là để giữ được sự tỉnh táo. Khi máu đang chảy, huyết áp đang tụt, bệnh nhân đang mê man, bác sĩ phải tập trung tuyệt đối vào chuyên môn, để tìm ra phương án chuẩn xác nhất để cứu bệnh nhân nhanh nhất.
PV: Nhiều người cho rằng, bệnh viện tư đầu tư mạnh về hạ tầng và dịch vụ, nên rất nhiều người đã lựa chọn bệnh viện tư thay vì bệnh viện công. Ý kiến của ông về vấn đề này như thế nào?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Y tế gồm hai phần: Phần chuyên môn và phần dịch vụ. Phần dịch vụ là chăm sóc tốt, phòng ốc đẹp, có ti vi, internet, điều hòa, tiện nghi...
Phần chuyên môn là chẩn đoán đúng, điều trị đúng và cứu được người bệnh. Một ca mổ thành công, một bệnh nhân được chữa khỏi bệnh, một ca cấp cứu kịp thời... không phụ thuộc vào phòng 5 sao hay bệnh viện “xịn” như thế nào, mà phụ thuộc vào tay nghề và quyết định chuyên môn của bác sĩ.
Bệnh viện công có nhiệm vụ phục vụ số đông. Nếu có diện tích nhất định, chúng tôi phải tính toán để điều trị được nhiều bệnh nhân nhất, đặc biệt là người nghèo, người không có điều kiện. Đó là trách nhiệm xã hội. Nếu đầu tư toàn bộ thành phòng cao cấp cho số ít người, thì sẽ đi ngược lại chức năng của bệnh viện công.
Mục tiêu là phục vụ cộng đồng, không phải chỉ phục vụ một nhóm nhỏ có khả năng chi trả cao. Cuối cùng, điều người bệnh cần nhất là được chẩn đoán đúng và điều trị hiệu quả. Phòng đẹp hay lời nói nhẹ nhàng không thể thay thế cho chất lượng chuyên môn.
Công bằng trong phân bổ tạng ghép
PV: Có ý kiến cho rằng, khi đất nước phát triển về kinh tế, nhu cầu hội nhập quốc tế cao hơn, thì lĩnh vực ghép tạng cũng phải thay đổi để phù hợp với xu thế đó. Ông nhìn nhận vấn đề này như thế nào?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Kinh tế phát triển chắc chắn kéo theo yêu cầu nâng cao chất lượng y tế. Ghép tạng là một trong những lĩnh vực thể hiện trình độ hội nhập rất rõ.
Khi chúng ta làm chủ được kỹ thuật, đào tạo được đội ngũ, xây dựng được quy trình bài bản, thì đó chính là bước hội nhập thực chất. Nhưng hội nhập không có nghĩa là thương mại hóa. Ghép tạng phải dựa trên nền tảng đạo đức, pháp luật và nhân văn. Đào tạo trong lĩnh vực này rất khắt khe, không chỉ là kỹ thuật mà còn là trách nhiệm. Mỗi quyết định đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mạng con người.
PV: Trong thực tế ghép tạng, có những tình huống rất khó về mặt đạo đức. Ví dụ nếu cùng lúc có nhiều bệnh nhân cần ghép, nhưng nguồn tạng có hạn, ông sẽ quyết định thế nào?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Không ai muốn đặt mình vào tình huống phải “chọn ai được sống trước”. Nhưng y khoa có nguyên tắc rất rõ: Ưu tiên theo mức độ cấp cứu và chỉ định chuyên môn.
Ví dụ, có bệnh nhân nếu không ghép ngay thì ngày mai có thể tử vong. Có người bệnh nặng nhưng vẫn có thể chờ thêm một thời gian. Khi đó, hội đồng chuyên môn sẽ đánh giá toàn diện: Mức độ nguy kịch, khả năng thành công sau ghép, tình trạng tổng thể của bệnh nhân.
Quyết định không dựa trên cảm tính, quen biết hay điều kiện kinh tế. Cứu người phải dựa trên nguyên tắc công bằng và khoa học. Làm nghề này, chúng tôi phải giữ được cái đầu lạnh để bảo vệ sự công bằng đó.
PV: Có ý kiến lo ngại rằng Việt kiều hoặc người Việt Nam ở nước ngoài về nước ghép tạng sẽ “lấy mất cơ hội” của người bệnh trong nước. Ông suy nghĩ như thế nào về ý kiến này?
PGS, TS Dương Đức Hùng: Quan điểm của chúng tôi rất rõ ràng, dù là Việt kiều hay người Việt Nam sống ở nước ngoài cũng vẫn là đồng bào ta, vẫn là người Việt Nam, là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc.
Do đó, không thể nói họ “lấy mất cơ hội” của ai. Việc phân bổ tạng ghép không dựa vào chuyện sống trong nước hay ở nước ngoài. Tất cả đều theo danh sách chờ và tiêu chí chuyên môn. Ai phù hợp nhất, cấp cứu nhất thì được ghép trước.
Y tế không phân biệt. Khi đã là người bệnh, họ cần được đối xử công bằng. Đó là nguyên tắc. Bệnh viện công có trách nhiệm phục vụ cộng đồng, đặc biệt là người dân trong nước. Nhưng đồng thời, nếu đồng bào ở nước ngoài trở về điều trị, thì chúng tôi vẫn tiếp nhận bình đẳng theo quy định. Quan điểm của chúng tôi là: Phục vụ con người trên nền tảng chuyên môn và pháp luật. Không có chuyện vì giàu hay nghèo mà thay đổi thứ tự ưu tiên.
Làm nghề y cũng giống như làm người. Tình cảm là cần thiết, nhưng phải tỉnh táo. Có những lúc cảm xúc rất mạnh như vui, buồn, áp lực... nhưng mình không thể để cảm xúc chi phối quyết định chuyên môn. Trong cuộc sống cũng vậy. Khi còn tình cảm thì mọi thứ rất rõ ràng. Khi tình cảm thay đổi, mình phải đủ bình tĩnh để nhìn nhận sự thật. Trong nghề y, sự bình tĩnh đó càng quan trọng hơn, vì phía sau mỗi quyết định là sinh mạng con người.
PV: Trân trọng cảm ơn ông!








