Để chính sách không 'đi trong sương mù': Lời giải từ bài toán dữ liệu
Chuyển đổi số vùng cao không đơn thuần là cuộc đua về hạ tầng hay nền tảng công nghệ, mà cốt lõi là xây dựng dữ liệu chuẩn xác, liên thông. Thay vì quản lý "trong sương mù", hệ thống dữ liệu "đúng, đủ, sạch, sống" sẽ giúp địa phương thấu hiểu chính mình, đưa mọi quyết sách bám sát thực tiễn.
Một vùng nguyên liệu muốn phát triển, cần biết rõ số hộ tham gia, quy mô diện tích và sản lượng. Một chương trình giảm nghèo muốn đi vào thực chất, phải nắm chắc hộ nào đang khó khăn, hộ nào đã vươn lên hay vừa tái nghèo. Một địa phương muốn trải thảm đỏ đón doanh nghiệp, tất yếu phải chỉ ra quỹ đất ở đâu, vùng nguyên liệu nào đủ lớn, hạ tầng vươn tới đâu và người dân đang mong mỏi điều gì.
Những bài toán tưởng chừng riêng rẽ ấy thực chất đều chung một lời giải: địa phương cần một hệ thống dữ liệu đủ chuẩn xác, đủ cập nhật và đủ sức kết nối để thực sự thấu hiểu bức tranh của chính mình.
Khi thiếu dữ liệu, chính sách dễ đi chậm hơn đời sống
Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, quản lý và thực hiện chính sách vốn đã khó bởi địa bàn rộng, dân cư phân tán, điều kiện giao thông và hạ tầng số giữa các khu vực còn chênh lệch. Nếu thông tin về dân cư, hộ nghèo, đất đai, sản xuất, hạ tầng hay đối tượng thụ hưởng lại nằm rời rạc ở nhiều nơi và không được cập nhật kịp thời, cán bộ cơ sở sẽ rất khó trả lời một câu hỏi tưởng đơn giản: hiện tại địa bàn mình thực sự đang có gì và người dân đang cần gì.

Người dân Đức Phổ, Quảng Ngãi, phát triển nuôi dê nhờ vốn tín dụng chính sách - Ảnh: VGP
Thực tế tại một số địa phương, cán bộ cơ sở từng ví việc thực hiện chính sách trong điều kiện dữ liệu thiếu và chưa đồng bộ như “đi trong sương mù”. Có trường hợp hộ đã thoát nghèo nhưng thông tin chưa được cập nhật; có người thuộc diện được hưởng chính sách nhưng hồ sơ chưa đầy đủ hoặc dữ liệu nằm ở nhiều cơ quan khác nhau. Khi thông tin thay đổi nhanh hơn cách cập nhật, chính sách rất dễ chậm một bước so với đời sống.
Tại Quảng Ngãi, quá trình rà soát hộ nghèo ở Sơn Mai từng xuất hiện tình trạng dữ liệu chưa khớp, chưa đủ, phải rà soát lại; tại Khánh Cường cũng có trường hợp phải điều tra, xác minh lại thông tin.
Những việc tưởng như chỉ liên quan đến một bảng thống kê thực ra lại quyết định việc một người dân có được xác định đúng đối tượng, một hộ gia đình có được hỗ trợ đúng thời điểm hay nguồn lực của Nhà nước có đến đúng nơi hay không.
Từ những con số rời rạc đến một bức tranh về địa bàn
Chuyển đổi số vì thế không nên bắt đầu bằng câu hỏi địa phương đã có bao nhiêu phần mềm hay bao nhiêu người sử dụng điện thoại thông minh, mà nên bắt đầu từ việc dữ liệu đang được thu thập, cập nhật và sử dụng như thế nào.
Cao Bằng là một ví dụ cho thấy khoảng cách về hạ tầng vẫn tác động trực tiếp đến khả năng tạo lập dữ liệu số. Theo số liệu được công bố tháng 5/2026, tỷ lệ hộ gia đình kết nối băng rộng cáp quang trên địa bàn đạt 60,06%, tỷ lệ thuê bao di động sử dụng điện thoại thông minh đạt 85,93%, nhưng vẫn còn 69 xóm chưa có sóng và 32 xóm chưa có điện. Địa phương đặt mục tiêu mở rộng hạ tầng để phủ băng rộng và di động đến 100% thôn, xóm.
Những con số ấy có ý nghĩa vượt ra ngoài chuyện kết nối Internet. Khi một xóm chưa có điện, chưa có sóng, việc cập nhật thông tin dân cư, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến hay đưa một sản phẩm địa phương lên môi trường số đều gặp trở ngại. Hạ tầng số vì thế trở thành một phần điều kiện để dữ liệu được hình thành từ cơ sở, thay vì chỉ được tổng hợp ở cấp trên.
Nhưng có hạ tầng vẫn chưa đủ. Ở Vân Bán, Lạng Sơn, các tổ công nghệ số cộng đồng đang hướng dẫn người dân sử dụng VNeID, dịch vụ công trực tuyến và các kỹ năng thuộc chương trình “Bình dân học vụ số”. Với một địa bàn có hơn 83% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số và phần lớn dân cư sống ở nông thôn, những hoạt động như vậy có ý nghĩa ở chỗ đưa kỹ năng số đến gần người dân, giúp họ từng bước trở thành chủ thể của quá trình chuyển đổi số thay vì chỉ là người sử dụng thụ động.

Các đại biểu tham quan mô hình “trạm công dân số“ - Ảnh: Trung tâm Công nghệ số, Sở KHCN Lạng Sơn
Dữ liệu tốt hơn để tổ chức sản xuất tốt hơn
Dữ liệu không chỉ phục vụ cơ quan quản lý. Một hợp tác xã muốn mở rộng vùng nguyên liệu cũng cần biết có bao nhiêu hộ tham gia, diện tích từng hộ, sản lượng dự kiến và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn. Doanh nghiệp muốn đầu tư vào một vùng nguyên liệu cần biết nguồn cung có ổn định hay không, giao thông và hạ tầng đến đâu, thị trường lao động thế nào.
Nếu những thông tin đó được cập nhật đầy đủ, dữ liệu có thể trở thành cơ sở để các chủ thể cùng nhau tổ chức sản xuất thay vì mỗi người tự tính toán trên những thông tin riêng lẻ.
Điều này gắn trực tiếp với câu chuyện khoa học, công nghệ. Một sản phẩm muốn nâng chất lượng cần kỹ thuật sản xuất; nhưng để nhiều hộ cùng làm ra sản phẩm có chất lượng tương đối đồng đều, cần thêm khả năng tổ chức và quản lý.
Một hợp tác xã muốn ký hợp đồng ổn định với doanh nghiệp phải biết vùng nguyên liệu của mình thực sự có bao nhiêu, sản lượng đến đâu và khả năng đáp ứng trong từng thời điểm. Khi ấy, dữ liệu không còn là phần việc riêng của cán bộ thống kê mà trở thành một đầu vào của hoạt động sản xuất.
Nghị quyết 57-NQ/TW đã đặt dữ liệu ở vị trí ngày càng quan trọng trong mô hình phát triển mới, trong đó nhấn mạnh yêu cầu đưa dữ liệu trở thành một nguồn lực quan trọng và thúc đẩy quản trị dựa trên dữ liệu. Với vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, yêu cầu ấy càng có ý nghĩa bởi khoảng cách địa lý và điều kiện tiếp cận thông tin khiến việc nắm bắt tình hình nếu chỉ dựa vào các phương thức thủ công thường mất nhiều thời gian.
Chính sách sát dân bắt đầu từ việc hiểu đúng người dân
Một hệ thống dữ liệu tốt không tự động tạo ra một chính sách tốt, nhưng thiếu dữ liệu chính xác thì rất khó có một chính sách thật sự sát với đời sống. Đây là điểm cần được nhìn nhận khi triển khai chuyển đổi số trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Nếu biết một xã có bao nhiêu hộ nghèo, những hộ nào đã thoát nghèo nhưng còn nguy cơ tái nghèo, nhóm nào thiếu sinh kế, khu vực nào thiếu nước, đường giao thông hay hạ tầng số, chính quyền có thể lựa chọn cách hỗ trợ phù hợp hơn. Khi dữ liệu được cập nhật thường xuyên, việc đánh giá một chính sách cũng không nhất thiết phải chờ đến cuối kỳ mới nhìn lại, bởi những thay đổi trên địa bàn có thể được nhận diện sớm hơn.
Đó cũng là lý do việc xây dựng, chuẩn hóa và kết nối cơ sở dữ liệu về vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi cần được coi là một phần của năng lực quản trị. Mục tiêu cuối cùng không phải tạo thêm những bảng biểu hay hệ thống dữ liệu để lưu trữ, mà là giúp cán bộ có thông tin đáng tin cậy hơn khi ra quyết định, giúp nguồn lực đến đúng đối tượng và giúp người dân giảm bớt những thủ tục phát sinh từ việc thông tin chưa thống nhất.
Đừng biến chuyển đổi số thành cuộc chạy đua nền tảng
Có một cách hiểu khá dễ gặp về chuyển đổi số là địa phương phải nhanh chóng có thêm ứng dụng, thêm nền tảng, thêm dịch vụ trực tuyến. Những công cụ ấy cần thiết, nhưng nếu chỉ dừng ở đó thì chuyển đổi số mới giải quyết được phần “có công nghệ”, chưa chạm đến phần quan trọng hơn là thay đổi cách quản lý và cách người dân, doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ, thông tin và cơ hội phát triển.
Ở vùng cao, một cán bộ xã sử dụng được hệ thống dữ liệu để xác định đúng hộ cần hỗ trợ có thể tạo ra giá trị thiết thực hơn nhiều so với việc địa phương sở hữu một nền tảng hiện đại nhưng dữ liệu bên trong chậm cập nhật. Một tổ công nghệ số cộng đồng hướng dẫn được người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến có thể tạo ra thay đổi bền vững hơn việc chỉ phổ biến một danh sách ứng dụng. Một hợp tác xã biết dùng dữ liệu để quản lý vùng nguyên liệu, sản lượng và đơn hàng sẽ có điều kiện tổ chức sản xuất tốt hơn so với việc chỉ đưa sản phẩm lên một sàn thương mại điện tử.
Vì thế, từ “biết địa bàn” đến “hiểu địa bàn” là một bước thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển. Khi địa phương biết rõ mình có gì, đang thiếu gì, nhóm dân cư nào cần hỗ trợ, vùng sản xuất nào có tiềm năng và điểm nghẽn nằm ở đâu, chính sách có thêm cơ sở để đi sát đời sống; người dân có thêm khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội thị trường; hợp tác xã và doanh nghiệp cũng có thêm thông tin để quyết định đầu tư, liên kết và tổ chức sản xuất.
Chuyển đổi số ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhìn từ đó, không phải là câu chuyện đưa miền núi trở thành một phiên bản của đô thị trên môi trường số. Điều quan trọng hơn là giúp một vùng đất nhìn thấy mình rõ hơn, bằng những dữ liệu đủ tin cậy để biết mình đang có gì, đang thiếu gì và nguồn lực cần được đưa đến đâu.
Khi dữ liệu được kết nối với con người, sản xuất và quản trị, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số mới thực sự trở thành một phần của năng lực phát triển ở từng bản làng.





